CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng 1. Khái niệm về rủi ro và rủi ro tín dụng 1.
Khái niệm rủi ro: Mọi người đều phải thừa nhận rằng môi trường sống của chúng ta đầy rẫy những rủi ro. Rủi ro có thể xuất hiện ở mọi ngành, mọi lĩnh vực. Rủi ro có thể xuất hiện một cách bất ngờ ở mọi lúc, mọi nơi. Tùy theo cách tiếp cận, ta có những định nghĩa khác nhau về rủi ro.
Nhưng nhìn chung, có thể chia làm 2 quan điểm: Theo quan điểm truyền thống: rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người. Xã hội loài người càng phát triển, hoạt động của con người cũng ngày càng nhiều và đa dạng, và xuất hiện những rủi ro mới, chưa từng có trong quá khứ. Theo quan điểm trung hòa: Rủi ro là một sự không chắc chắn, một tình trạng bất ổn hay sự biến động tiềm ẩn ở kết quả. Tuy nhiên, không phải sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro.
Chỉ có những tình trạng không chắc chắn nào có thể ước đoán được xác định xảy ra mới được xem là rủi ro. Những tình trạng không chắc chắn nào chưa từng xảy ra và không thể ước đoán được xác suất xảy ra được xem là sự bất trắc chứ hông phải rủi ro. Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được. Rủi ro được xem như là sự khác biệt giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng.
Giá trị kỳ vọng chính là giá trị trung bình có trọng số của một biến nào đó với trọng số chính là xác suất xảy ra giá trị của biến đó. Sự khác biệt giữa giá trị thực tế so với giá trị kỳ vọng được đo lường bởi độ lệch chuẩn. Do vậy, độ lệch chuẩn hay phương sai (bình phương độ lệch chuẩn) chính là thước đo của rủi ro. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Rủi ro vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực.
Rủi ro có thể gây ra những tổn thất, mất mát, nguy hiểm nhưng cũng có thể mang đến những cơ hội, thời cơ. Nếu tích cực nghiên cứu, nhận dạng, đo lường rủi ro, chúng ta có thể tìm ra được những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những tiêu cực và phát huy được những cơ hội tích cực mang lại từ rủi ro. Khái niệm rủi ro tín dụng: Trong nền kinh tế thị trường, cung cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của ngân hàng. Rủi ro trong ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng.
đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra. Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng, thì nguyên nhân thường phải sinh ra từ hoạt động tín dụng của ngân hàng. Có nhiều cách tiếp cận khái niệm rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện một nghĩa vụ tài chính hoạc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một ngân hàng, bao gồm cả việc không thanh toán nợ gốc hay lãi khi khoản nợ đến hạn.
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của Tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Như vậy, có thể kết luận: “Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ, hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng trong Basel Theo hiệp ước Basel II của Ủy Ban Basel về giám sát hoạt động ngân hàng, trong đó tách biệt rủi ro hoạt động và rủi ro tín dụng đồng thời lượng hóa 02 loại rủi ro này. Việc lượng hóa rủi ro tín dụng hay ước lượng mức độ tổn thất tín dụng dựa vào 04 nhân tố chính bao gồm (i) Xác suất không trả được nợ của khách hàng – PD, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 (ii) Tỷ lệ mất vốn dự kiến – LGD, (iii) Dư nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ – EAD và (iv) Thời hạn vay thực tế – EE.
Trong đó, xác suất không trả được nợ là yếu tổ đầu tiên và rất quan trọng để ngân hàng tiếp cận và ước lượng các nhân tố khác trong mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng. Dựa trên kết quả xếp hạng nội bộ, các ngân hàng có thể sử dụng mô hình để ước lượng xác suất không trả được nợ của khách hàng (Probability of Default). Đây chính là nhân tố đầu tiên và quan trọng cấu thành rủi ro tín dụng mà các ngân hàng phải có để xây dựng mô hình ước lượng mức vốn theo quy định. Với việc ước lượng mức độ tổn thất không dự tính được trong khoảng thời gian nhất định sẽ giúp ngân hàng xác định lượng vốn cần thiết để đối mặt với rủi ro.
Theo đó, các ngân hàng sẽ ước lượng mức vốn kinh tế để bù đắp mức độ tổn thất không dự tính được trên cơ sở lý thuyết phương pháp VaR (Value at Risk) và các tham số chính cấu thành rủi ro tín dụng như sau: PD (Probability of Default): Xác suất khách hàng không trả được nợ trong 12 tháng tới. LGD (Loss Given Default): Tỷ lệ mất vốn dự kiến. EAD (Exposure of Default): Dư nợ của khách hàng tại thời điểm không trả được nợ. M (Maturity): Thời hạn Đối với phương pháp cơ bản, ngân hàng chỉ ước lượng xác suất không trả được nợ của khách hàng trên cơ sở thông tin nội bộ và phải được cơ quan quản lý ngân hàng phê duyệt.
Còn tỷ lệ mất vốn dự kiến (LGD) và thời hạn vay (M) sẽ do cơ quan giám sát ngân hàng quy định. Trong khi đó, đối với phương pháp cao cấp toàn bộ các tham số này sẽ do bản thân ngân hàng ước lượng và cũng phải được cơ quan giám sát ngân hàng phê duyệt chấp thuận trước khi đưa ra áp dụng. Phương pháp đánh giá dựa trên xếp hạng nội bộ đưa ra khái niệm tổn thất mất vốn do khách hàng không trả được nợ (EL). Theo quy định của Basel II, tổn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thất tín dụng của một danh mục tín dụng có thể phân chia thành 02 loại là (i) Khoản tổn thất dự tính được – EL và (ii) Khoản tổn thất không dự tính được – UL.
Trong đó, khái niệm EL ở đây là mức tổn thất trung bình dự tính được qua số liệu thống kê trong quá khứ vì ngân hàng không biết chính xác 100% khách hàng nào là khách hàng xấu và khoản vay nào không thể trả được trong 12 tháng tới. Đối với mỗi khoản vay hay mỗi khách hàng, khoản tổn thất dự tính – EL được sẽ xác định như sau: EL = PD* LGD* EAD 1. Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng Rủi ro Rủi ro giao dịch danh mục Rủi ro lựa Rủi ro bảo Rủi ro Rủi ro nội Rủi ro tập chọn đảm nghiệp vụ tại trung Hình 1. Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. Trong đó: - Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay - Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài san đảm bảo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỉ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tính dụng mà nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, chia thành 2 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
- Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. - Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một khách hàng, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Các hình thức của rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng Không thu Không thu Không thu đủ Không thu đủ được lãi đúng được vốn đúng lãi vốn (mất vốn) hạn hạn 1.
Nợ không Lãi treo phát Nợ quá hạn đóng băng có khả năng sinh phát sinh 2. Miễn giảm thu hồi lãi 2. Hình thức của rủi ron tính dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm của rủi ro tín dụng Là loại rủi ro phát sinh trong suốt quá trình cấp tín dụng của ngân hàng đối với khách hàng.
Khả năng xảy ra tổn thất khi người đi vay không trả được nợ, hoặc trả nợ không đầy đủ, không đúng hạn cho ngân hàng. Tồn tại khách quan và gắn liền với các hoạt động của ngân hàng và là rủi ro chủ yếu của rủi ro ngân hàng. Những căn cứ chủ yếu xác định mức độ rủi ro tín dụng 1. Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn Nợ quá hạn Nợ quá hạn là những khoản nợ không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ.
Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 2009), về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận.