Chương I: Giới thiệu Chương II: Cơ sở lý luận chung về rủi ro hoạt động tại NHTM. Chương III: Phương pháp nghiên cứu. Chương IV: Kết quả nghiên cứu. Chương V: Kết luận và đề xuất.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO HOẠT ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.1 Khái niệm rủi ro hoạt động. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về rủi ro tùy thuộc vào chủ thể và hoạt động của chủ thể đó trong mối quan hệ với các yếu tố khác nhau của môi trường. Tuy nhiên, các quan niệm đó đều thống nhất một nội dung coi rủi ro là sự bất trắc không mong đợi, gây ra thiệt hại và có thể đo lường được. Rủi ro được Allan H.
Willett (1951) định nghĩa: “rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất”.Rủi ro cũng được định nghĩa là: “rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất”. Đặc biệt Fank H.Knight lại có một quan điểm hoàn toàn khác về rủi ro khi coi “rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được”. Như vậy có thể thấy rủi ro là sự kiện không may xảy ra luôn gắn liền với hoạt động và môi trường sống của con người.Fitch (Dictionary of Banking systems, Barron’s Edutional Series, Inc, 1997): Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vây của Ngân hàng.
Theo Hennie van Greuning – Sonja B rajovic Bratanovic (The world Bank): Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây anh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng.Koch (Bank management, University of South Carolina, The Dryden, 1995, page 107) cho rằng: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn. Là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ hoặc có sai sót; do con người; do các hệ thống hoặc do các yếu tố bên ngoài.
Rủi ro hoạt động không bao gồm rủi ro danh tiếng và rủi ro chiến lược. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ, sử dụng số tiền này để LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 cấp tín dụng và cung ứng các dịch thanh toán nhằm mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động ngân hàng với các sản phẩm dịch vụ truyền thống như: trao đổi tiền tệ, chiết khấu thương phiếu, cho vay thương mại, nhận tiền gửi, bảo quản vật có giá, tài trợ các hoạt động của Chính phủ, cung cấp các tài khoản giao dịch và dịch vụ ủy thác. Hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển theo hướng trở thành tập đoàn gồm nhiều công ty trực thuộc cung cấp các dịch vụ tài chính vì vậy các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cũng ngày càng đa dạng và phong phú đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của DN và cá nhân như: cho vay tiêu dùng, quản lý ngân quỹ,tư vấn tài chính, cho thuê.
Hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển theo hướng trở thành tập đoàn gồm nhiều công ty trực thuộc cung cấp các dịch vụ tài chính vì vậy các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cũng ngày càng đa dạng và phong phú đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của DN và cá nhân như: cho vay tiêu dùng, quản lý ngân quỹ, tư vấn tài chính, cho thuê tài chính, tài trợ dự án, kinh doanh chứng khoán, cung cấp dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn, dịch vụ ngân hàng quốc tế, thanh toán thẻ… Chính từ những dịch vụ kinh doanh đa dạng, phạm vi hoạt động rộng trong và ngoài nước như vậy thì rủi ro trong hoạt động ngân hàng cũng ngày càng gia tăng. Như vậy, trong hoạt động kinh tế nói chung và trong hoạt động Ngân hàng nói riêng thì vấn đề rủi ro là không thể tránh khỏi. Vì thế, các nhà quản trị không thể loại bỏ được rủi ro mà chỉ có thể phát hiện kịp thời để có những biện pháp chủ động xử lý. Trong sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường hiện nay, các nhà quản trị phải biết nhân biết và dự đoán trước các rủi ro để sớm đưa ra các giải pháp phòng ngừa chống đỡ tác hại của nó….2 Các loại rủi ro hoạt động trong NHTM.
Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh và rủi ro là hai phạm trù cặp đôi. Rủi ro tồn tại trong hoạt động kinh doanh dưới các hình thức khác nhau. Do đặc điểm đặc thù của hoạt động Ngân hàng làm cho hoạt động này có độ rủi ro lớn. Có các loại rủi ro chủ yếu sau trong hoạt động của ngân hàng thương mại.1 Rủi ro tín dụng.
Tín dụng là hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại. Nguồn thu từ hoạt động tín dụng luôn chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng thu nghiệp vụ ngân hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 và đem lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng lại là hoạt động có nhiều rủi ro nhất và phức tạp nhất. Hoạt động tín dụng liên quan chặt chẽ đến mọi lĩnh vực của nền kinh tế.
Mỗi rủi ro trong các lĩnh vực này đều tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Trong hoạt động tín dụng, ngân hàng thương mại luôn đặt ra mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, đồng thời tối thiểu hóa rủi ro. Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi ngân hàng thương mại phải có những giải pháp thích hợp để quản lý và phòng ngừa rủi ro tín dụng.2 Rủi ro lãi suất. Đây là loại rủi ro mang tính xã hội, nó ảnh hưởng đến hầu hết các tổ chức kinh tế, các cá nhân trong nền kinh tế quốc dân.
Người ta quan niệm lãi suất là chi phí để vay hoặc giá phải trả để thuê vốn trong một thời gian nào đó. Trong cơ chế thị trường, lãi suất luôn biến động và điều này có thể gây ra rủi ro cho hoạt động của ngân hàng thương mại. Chẳng hạn, ngân hàng đã ký hợp động cho vay một kỳ hạn với lãi suất cố định, sự thiệt hại của ngân hàng sẽ diễn ra khi lãi suất trên thị trường tăng lên. Ngược lại, khi nhận vốn với một thời hạn và lãi suất ấn định, ngân hàng sẽ bị thiệt hại khi lãi suất thị trường giảm xuống: Rủi ro lãi suất là loại rủi ro do sự biến động của yếu tố tiền tệ.
Rủi ro lãi suất này sinh ra trong những trường hợp sau: Lạm phát tăng, lãi suất buộc phải điều chỉnh theo xu hướng tăng làm chi phí của ngân hàng phải bỏ ra cũng tăng lên, do đố làm giảm thu nhập của ngân hàng. Khi lam phát cao thị trường có lợi cho người vay vốn và bất lợi cho người cho vay. Do cơ cấu tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng không hợp lý. Ngân hàng dùng tài sản nợ ngắn hạn để đầu tư vào tài sản có dài hạn.
Nếu lãi suất ngắn hạn tăng, chi phí ngân hàng phải bỏ ra cũng sẽ tăng lên, trong khi thu nhập ở tài sản có dài hạn vẫn giữ nguyên, như vậy thu nhập của ngân hàng không đủ bù đắp chi phí kinh doanh, dẫn đến ăn mòn vào vốn. Ngoài ra, rủi ro lãi suất có thể xảy ra do trình độ thấp kém bị thua thiệt trong việc cạnh tranh lãi suất trên thị trường. Hoặc do yếu tố của nền kinh tế tác động đến lãi suất như cung, cầu, yếu tố thị trường…Khi Nhà nước có quyết định điều chỉnh lãi suất theo hướng giảm xuống, trong khi tiền gửi có kỳ hạn chưa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 đến hạn trả. Như vậy, lãi suất cho vay bị giảm thấp, nhưng phần trả lãi cho những khoản tiền gửi có kỳ hạn lại không giảm tương ứng dẫn đến rủi ro lãi suất.3 Rủi ro nguồn vốn 2.1 Rủi ro do thừa vốn.
Như ta biết, nguồn vốn hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại là nguồn vốn huy động. Để huy động được vốn Ngân hàng phải trả lãi cho người gửi tiền. Nếu số này bị ứ đọng, không thể cho vay hoặc đầu tư vào các loại tài sản có thể sinh lời trong khi ngân hàng vẫn phải trả lãi cho số vốn đã huy động thì có nghĩa là các thiệt hại của ngân hàng đang diễn ra. Nếu quá trình này kéo dài ở mức độ lớn có thể dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh.
Giải quyết vấn đề này, NHTM cần phải tăng cường công tác kế hoạch hoá, đảm bảo cân đối giữa vốn huy động và vốn cho vay.1 Rủi ro do thiếu vốn. Loại rủi ro này xảy ra khi Ngân hàng không đáp ứng được các nhu cầu cho vay và đầu tư, thậm chí không đủ vốn để thanh toán cho người gửi tiền khi đến hạn. Rủi ro này xuất phát từ chức năng chuyển hoán các kỳ hạn sử dụng vốn và nguồn vốn của ngân hàng, thông thường các kỳ hạn sử dụng vốn dài hơn kỳ hạn các nguồn vốn, hoặc do mất lòng tin mà các hàng loạt khách hàng đến rút tiền, khiến cho ngân hàng không có đủ tiền để chi trả cùng một lúc. Trong bối cảnh đó, ngân hàng khó lòng huy động được nguồn vốn dồi dào, từ đó kinh doanh có thể bị thu hẹp và vỡ nợ rất có thể xảy ra.
Rủi ro này còn có thể do ngân hàng chưa thực hiện tốt công tác huy động vốn thể hiện ở việc không thu hút đủ vốn để cho vay hoặc do sự mất cân đối trong cơ cấu vốn huy động, thiếu các nguồn vốn trung dài hạn trong khi nhu cầu vay vốn trung dài hạn lại ở mức cao. Điều này đã làm cho Ngân hàng mất cơ hội đầu tư vào những dự án an toàn và có thể đem lại lợi nhuận cao.4 Rủi ro hối đoái. Rủi ro hối đoái là loại rủi ro do sự biến động của tỷ giá hối đoái. Nếu tỷ giá hối đoái bán ra lớn hơn tỷ giá mua vào thì nhà kinh doanh có lãi, ngược lại thì bị lỗ.