chương 1 Chương này trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, nêu lý do tác giả thực hiện nghiên cứu và chọn đề tài. Cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu, đối tượng và ý nghĩa nghiên cứu. Xuất phát từ ý tưởng và mục tiêu nghiên cứu tác giả cụ thể hóa các câu hỏi nghiên cứu mà sẽ được làm rõ trong suốt đề tài. Cuối cùng là trình bày kết cấu của đề tài nghiên cứu.
7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Biến đổi khí hậu (BĐKH) BĐKH mà biểu hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng (NBD) đã tạo nên các hiện tượng thời tiết cực đoan hiện nay. Đây là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại vì BĐKH đang ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái, tài nguyên môi trường và cuộc sống của con người. Theo Ủy ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC, 2007), thì BĐKH là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển.
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008) (Bộ TN&MT), định nghĩa BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc sự dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. Dựa vào các khái niệm về BĐKH của các nghiên cứu trước, trong phạm vi luận văn này, BĐKH được hiểu là sự thay đổi của khí hậu do tác động của con người kết hợp với yếu tố tự nhiên qua các thời kỳ, sự thay đổi này theo chiều hướng xấu và tác động tiêu cực, cụ thể trực tiếp đến thời tiết gây ảnh hưởng xấu đến toànbộ sinh vật trên trái đất. Biểu hiện của BĐKH: Theo Trương Quang Học (2012), biểu hiện của BĐKH rất phức tạp, bao gồm các biểu hiện chính như: Thứ nhất nhiệt độ trung bình, tính biến động và dị thường của thời tiết, khí hậu tăng lên. Thứ hai lượng mưa thay đổi.
Thứ ba mực NBD lên do sự tan băng ở các cực và các đỉnh núi cao. Thứ tư cácthiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan (nắng nóng, giá rét, bão, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn) xảy ra với tần suất, độ bất thường và có thể cả cường độ tăng lên. 8 Nguyên nhân gây ra BĐKH: Tình trạng BĐKH toàn cầu xuất phát từ hai nhóm là nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Nguyên nhân chủ quan, những tác động của con người vào môi trường tự nhiên chính là nguyên do gây nên BĐKH.
Theo đó, việc gia tăng khí CO2 do hoạt động sản xuất công nghiệp, phá rừng, sử dụng nguồn nước cũng như các loại khí độc hại khác là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên. Bên cạnh đó, các yếu tố khách quan trong đó có sự thay đổi trong chính nội tại của tự nhiên bao gồm sự thay đổi trong hoạt động mặt trời, của quỹ đạo trái đất, sự dịch chuyển của các châu lục cũng tác động không nhỏ gây nên tình trạng này (Trần Thọ Đạt và ctg, 2012). Tác động của BĐKH: BĐKH tác động tiêu cực cho sự phát triển của mọi sinh vật, tác động đến tất cả các vùng trên thế giới với mức độ khác nhau, tới tất cả các tài nguyên, môi trường và hoạt động kinh tế, xã hội của con người. Phạm vi tác động của BĐKH là toàn diện, tác động đến mọi người, mọi lĩnh vực, mọi khu vực ở hiện tại và tiếp tục trong tương lai.
Đặc biệt BĐKH tác động nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp (SXNN).2 Xâm nhập mặn (XNM) XNM tại Việt Nam là vấn đề ngày càng trở nên cấp bách. Gây ra các vấn đề thiếu nước ngọt cung cấp cho người dân sinh hoạt, tưới tiêu và SXNN. Có nhiều định nghĩa về XNM của nhiều tác giả như sau: Theo Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai (DMC, 2016), XNM là hiện tượng nước mặn với nồng độ mặn bằng 4‰ xâm nhập sâu vào nội đồng khi xảy ra triều cường, NBD hoặc cạn kiệt nguồn nước ngọt. Theo Boyd (1998), độ mặn của nước là tổng nồng độ của tất cả các ion trong nước bao gồm các ion chính như Ca2+, Mg2+, Na+, K+, HCO3-, Cl-, SO42-.
Nồng độ của những ion này khác nhau tùy theo loại nước và nó được biểu thị là số gram chất tan/kg dung dịch. Đơn vị đo độ mặn thường được sử dụng là phần ngàn. Lê Anh Tuấn (2008), XNM là hiện tượng nước biển xâm nhập vào vùng nước ngọt của lòng sông hoặc các tầng nước ngọt dưới đất. Hiện tượng này diễn ra phổ biến tại các cửa sông tiếp giáp với biển.
Vào mùa nước cạn, lượng nước từ sông đổ 9 ra biển giảm thấp, nước biển lấn sâu vào sông làm cho nước sông bị nhiễm mặn, độ mặn sẽ giảm dần theo hướng vào đất liền.1 Hiện tượng XNM từ biển vào sông Nguồn: Lê Anh Tuấn, 2008. Dựa vào các khái niệm về XNM của các tài liệu có liên quan, trong luận văn này XNM được hiểu là khi mực NBD theo bờ biển nước mặn có thể di chuyển vào đất liền. Điều này xẩy ra khi mực NBD do bảo, thủy triều dâng cao tràn qua các khu vực có độ cao thấp và nó xẩy ra khi nước mặn xâm nhập vào các tầng chứa nước ngọt.3 Thích ứng với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn Cho đến nay, nhiều quan niệm khác nhau về thích ứng với BĐKH đã được đưa ra như: Burton, Thomas, IPCC, Bộ TN&MT…. Thomas (2007), thích ứng có nghĩa là điều chỉnh hoặc thụ động, hoặc phản ứng tích cực, hoặc có phòng bị trước được đưa ra với ý nghĩa là giảm thiểu và cải thiện những hậu quả có hại của BĐKH.
IPCC (2007), định nghĩa thích ứng với BĐKH là khả năng tự điều chỉnh của một hệ thống trước sự biến đổi của khí hậu để làm giảm nhẹ các thiệt hại tiềm tàng, tận dụng các cơ hội, hoặc đương đầu với các hậu quả. Bộ Tài nguyên & Môi trường (2008), cho rằng thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn tương do tác động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và vận dụng các cơ hội do nó mang lại. 10 Theo Đặng Thị Hoa và Chu Thị Thu (2013), thì thích ứng với BĐKH trong SXNN là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoạt động canh tác nông nghiệp nhằm giảm khả năng bị tổn thương do BĐKH gây ra và có thể tận dụng các cơ hội do BĐKH mang lại cho SXNN. Bản chất của thích ứng với BĐKH trong SXNN là cách mà người dân làm để ngày càng giảm thiểu được thiệt hại do BĐKH gây ra cho SXNN, để hoạt động trồng trọt, chăn nuôi ít bị tổn thương giữ được năng suất cao và ổn định từ đó góp phần nâng cao kết quả và hiệu quả trong SXNN (Đặng Thị Hoa và ctg, 2013).
Trong khuôn khổ của luận văn này tác giả sử dụng khái niệm về thích ứng với XNM là sự thay đổi hành vi của con người trước những thay đổi của môi trường, thời tiết, khí hậu nhằm giảm đi những rủi ro tác động do XNM gây ra, nông hộ nắm bắt được những tác động của XNM đến hoạt động sản xuất và điều kiện sống của nông hộ từ đó có những điều chỉnh những thay đổi để phù hợp với điều kiện mới.4 Nông hộ, Sản xuất nông nghiệp (SXNN) Nông hộ là hộ nông dân làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp hoặc kết hợp làm nhiều nghề, sử dụng lao động và tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh. Nông hộ được xác định là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng (Nguyễn Thanh Trường, 2008). SXNN là ngành sản xuất vật chất với đối tượng sản xuất chủ yếu là cây trồng, vật nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm cho con người và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp (Đặng Thị Hoa, 2017).2 CHIẾN LƯỢC THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Chiến lược thích ứng (CLTƯ) với BĐKH là tổng thể các hành động nhằm ứng phó với BĐKH, tập hợp những giải pháp với mục tiêu là giảm nhẹ tác động của BĐKH. Tuy nhiên tùy thuộc vào mỗi lĩnh vực, địa điểm, thời gian sẽ có những CLTƯ khác nhau.
11 Có nhiều CLTƯ có thể được thực hiện trong việc ứng phó với BĐKH. Báo cáo đánh giá lần thứ 2 của Ủy ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC, 2007) đã đề cập và miêu tả 228 CLTƯ khác nhau và phân loại như sau: Chấp nhận tổn thất: Cơ bản là “không làm gì cả”, ngoại trừ chịu đựng hay chấp nhận những tổn thất. Trên lý thuyết, chấp nhận tổn thất xảy ra khi không cókhả năng chống chọi lại bằng bất kỳ cách nào. Chia sẻ tổn thất: Việc chia sẻ những tổn thất giữa một cộng đồng dân cư lớn.
Mặt khác, các cộng đồng lớn phát triển cao chia sẻ những tổn thất thông qua cứu trợ cộng đồng, phục hồi và tái thiết bằng các quỹ công cộng. Làm thay đổi nguy cơ: Đối với BĐKH, có thể điều chỉnh thích hợp làm chậm tốc độ BĐKH bằng cách giảm phát thải khí nhà kính và cuối cùng là ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển. Hay là làm giảm tác động của BĐKH. Ngăn ngừa các tác động: Là một hệ thống các chiến lược thường dùng để thích ứng từng bước và ngăn chặn các tác động của biến đổi và bất ổn của khí hậu.
Thay đổi cách sử dụng: Khi những rủi ro của BĐKH làm cho không thể tiếp tục các hoạt động kinh tế hoặc rất mạo hiểm, người ta có thể thay đổi cách sử dụng. Thay đổi/chuyển địa điểm: Một sự đối phó mạnh mẽ hơn là thay đổi/chuyển địa điểm của các hoạt động kinh tế. Nghiên cứu: Quá trình thích ứng có thể được phát triển bằng cách nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ mới và chiến lược mới về thích ứng. Giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi: Sự phổ biến kiến thức thông qua các chiến dịch thông tin công cộng và giáo dục, dẫn đến việc thay đổi hành vi.
Như vậy, sự thích ứng diễn ra cả ở trong tự nhiên và hệ thống kinh tế xãhội (KT-XH) của con người.