Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Sau khi tìm hiểu về tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của việc phân tích các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản của các NHTM Việt Nam. Tác giả đã định hướng được mục tiêu nghiên cứu, xác định rõ đối tượng cũng như phạm vi nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, cuối cùng là bố cục của khóa luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Mục tiêu phần này chủ yếu đề cập về cơ sở lý thuyết và lược khảo các bằng chứng thực nghiệm trong và ngoài nước về các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại Việt Nam.1 Cơ sở lý thuyết về khả năng thanh khoản 2.1 Khái niệm thanh khoản của ngân hàng thương mại Theo (Duttweiler, R.
2011) "Thanh khoản thể hiện là khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn đến mức tối đa và bằng đơn vị tiền tệ được quy định". Uỷ ban Basel về giám sát cho rằng: "Thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn.2 Khả năng thanh khoản "Khả năng thanh khoản của ngân hàng hay khả năng đáp ứng nguồn vốn cho sự tăng lên của tài sản có và thanh toán các khoản nợ khi đến hạn" (Basel 2000). Theo Basel (2008) "Khả năng thanh khoản là khả năng ngân hàng tài trợ cho việc gia tăng tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ của ngân hàng khi chúng đến hạn mà không phải chịu những tổn thất nào". Theo Duttweiler (2010), "Khả năng thanh khoản là thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn…".
Theo Trần Huy Hoàng (2011) thì “ Khả năng thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh”. Khả năng thanh khoản có vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng và ảnh hưởng đến sự sống còn của hầu hết các ngân hàng thương 7 mại đều được thể hiện chủ yếu thông qua chỉ số quản lý thanh khoản. Vì khi chỉ một ngân hàng công bố phá sản hay khả năng thanh khoản không đáp ứng đủ điều kiện sẽ dẫn đến hiệu ứng lan truyền làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới cả một hệ thống ngân hàng của toàn quốc. Khả năng các khoản tiền gửi tại ngân hàng phải chi trả, cho vay, giao dịch chuyển tiền hay thanh toán, vốn phải giao dịch và các nghĩa vụ phải trả các khoản nợ phát sinh thì ngân hàng phải có đủ lượng tài sản dự trữ để kịp thời giải ngân những khoản tiền ấy ngay thời điểm khách hàng cần, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng vỡ nợ và có nguy cơ phá sản vì tính thanh khoản kém.3 Lý thuyết cho vay thương mại và thanh khoản Lý thuyết cho vay thương mại (Smith, 1776) phát biểu rằng các NHTM huy động vốn chủ yếu từ vốn ngắn hạn nên ngân hàng cần đầu tư vào tài sản ngắn hạn thông qua cho vay mua bán ngắn hạn, điều này sẽ giúp ngân hàng cân đối thời hạn giữa tài sản và nguồn vốn, do đó đảm bảo tính thanh khoản của ngân hàng.
Lý thuyết này có ý nghĩa quan trọng trong làm rõ vai trò của cho vay thương mại, đồng thời ngụ ý rằng các NHTM cần tập trung vào cho vay đảm bảo khả năng thanh khoản. Tuy nhiên, lý thuyết này cũng có một hạn chế nhất định việc đánh giá thời hạn của vốn huy động, mặc dù phần lớn vốn huy động có thời hạn ngắn hoặc không xác định, nhưng trong các NHTM việc huy động diễn ra liên tục, tạo ra các dòng tiền liên tiếp. Ngoài ra, việc cho vay phi thương mại đối với trung và dài hạn không được đánh giá đúng mức nên lý thuyết này hàm ý các NHTM luôn trong tình trạng rủi ro cao, đặc biệt là rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và các khoản cho vay càng tăng thì khả năng nợ xấu tăng cao làm thanh khoản của NHTM càng giảm 2.4 Tác động của rủi ro thanh khoản Nếu tính thanh khoản ngân hàng thấp sẽ có những kết quả không mong muốn. Ngân hàng là trung gian tài chính giữa người đi vay và người cho vay mà nguồn thu lớn nhất là sự chênh lệch về hoạt động lãi suất cho vay.
Khi ngân hàng gặp phải tình trạng thanh khoản khan hiếm, ngân hàng sẽ cố gắng tìm kiếm các nguồn vốn cao bằng cách tăng lãi suất huy động để thu hút tiền 8 gửi từ khách hàng. Tuy nhiên, việc tăng lãi suất huy động sẽ dẫn đến tăng lãi suất cho vay, gây khó khăn cho các khách hàng cá nhân hoặc doanh nghiệp khi vay vốn với lãi suất cao. Đồng thời, ngân hàng cũng phải trả lãi suất cao cho tiền gửi, nhưng khó khăn trong việc cho vay vốn, dẫn đến ngân hàng mất lợi nhuận. Nếu ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu rút tiền của khách hàng, đặc biệt là trong trường hợp ngân hàng mất thanh khoản, điều này sẽ làm giảm uy tín và niềm tin của khách hàng, gây ra tác động tiêu cực đến hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng.
Việc rút tiền ồ ạt của khách hàng do lo ngại mất tiền có thể gây ra tình trạng khó khăn và có thể gây ra rủi ro phá sản, như trường hợp của ngân hàng SVB - một trong những ngân hàng lớn thứ 13 tại Mỹ.5 Phương pháp đo lường khả năng thanh khoản của ngân hàng Rủi ro thanh khoản được đo lường theo hai cách: đo lường bằng "khe hở thanh khoản và các tỷ lệ thanh khoản" (Vodová 2011). Khe hở thanh khoản được đề cập trong Risk Management in Banking của J. Bessis (2009) được ước tính bằng "chênh lệch giữa tài sản và nguồn vốn cả thời điểm hiện tại và tương lai". Một phép đo khác là tỷ lệ thanh khoản được tính bằng các chỉ tiêu khác nhau trong bảng cân đối kế toán để xác định các xu hướng thanh khoản chính.
Bốn tỷ lệ thanh khoản được trình bày dưới đây là tổng hợp các nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài khi đề cập đến tính khả năng thanh khoản: 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑘ℎ𝑜ả𝑛 L1 = (1) nghiên cứu bởi Aspachs et al (2005), Praet and 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Herzberg (2008), Rychtarik (2009). 9 Hai tỷ số đầu tiên (L1), (L2) để đánh giá tính thanh khoản của một ngân hàng, các tỷ số có thể được sử dụng để đo lường mức độ tính thanh khoản của tài sản mà ngân hàng đang nắm giữ. Nếu các tỷ số này càng cao, tức là tài sản có tính thanh khoản càng cao và ngân hàng đó sẽ ít gặp rủi ro về thanh khoản. Ngược lại, các công thức như (L3), (L4) cũng có thể được sử dụng để đo lường mức độ kém thanh khoản của tài sản mà ngân hàng đang nắm giữ.
Nếu các tỷ số này càng cao, tức là tài sản có tính thanh khoản thấp và ngân hàng đó sẽ gặp nhiều rủi ro về thanh khoản. Trong khóa luận này, tác giả sẽ đo lường biến phụ thuộc LIQ - khả năng thanh 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑘ℎ𝑜ả𝑛 khoản bằng công thức L1 = vì tỉ số này sẽ cung cấp thông tin bao 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 quát về khả năng thanh khoản của ngân hàng hay nói cách khác trong tổng tài sản của ngân hàng thì tỷ trọng tài sản thanh khoản chiếm bao nhiêu phần trăm. Từ đó có thể đánh giá được khả năng thanh khoản của ngân hàng tốt hay xấu. Trong đó: Tài sản thanh khoản được tính theo công thức tiền mặt, vàng bạc đá quý + tiền gửi tại ngân hàng nhà nước + tiền vàng gửi và cho vay tại tổ chức tín dụng khác + chứng khoán kinh doanh.
Các dữ liệu này được lấy từ liệu từ bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng.2 Các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại Moulton (1918), một trong những người khởi đầu của lí thuyết khả năng thay đổi (Shiftability theory) khẳng định rằng “thanh khoản là khả năng thay đổi”. Lí thuyết cho rằng, ngân hàng có thể tự đảm bảo rủi ro thanh khoản hiệu quả nhất bằng cách duy trì tỉ trọng lớn về tài sản có tính thanh khoản cao. Lí thuyết khả năng thay đổi làm chuyển hướng sự chú ý của các ngân hàng, các cơ quan chức năng và cho rằng các khoản vay hay đầu tư là nguồn gốc của vấn đề thanh khoản ngân hàng. Do hoạt động của ngân hàng có tính hệ thống nên khi xem xét sự ổn định, khộng phải chỉ xem xét đối với từng NHTM mà cần xem xét toàn hệ thống.
Nếu xét góc độ từng NHTM, khả năng thanh khoản tốt là yếu tố then chốt giúp ngân hàng thương mại duy trì và phát triển hoạt động của mình một cách ổn định và bền vững. Xét trên góc độ toàn hệ thống, ổn định của từng ngân hàng sẽ tạo nên sự ổn định 10 cho toàn hệ thống NHTM. Một hệ thống ngân hàng được xem là ổn định khi kiểm soát tốt rủi ro thanh khoản, loại trừ được sự mất cân bằng tài chính xuất hiện từ bên trong hoặc là kết quả của các yếu tố bất lợi và các sự kiện xảy ra ngoài dự kiến.1 Nhóm yếu tố bên trong ngân hàng Quy mô ngân hàng (SIZE) Quy mô ngân hàng được tính bằng công thức là lấy logarit tự nhiên của tổng tài sản. (Vodova, 2011) đã tìm thấy mối tương quan thuận giữa quy mô ngân hàng và tính thanh khoản tại các Ngân hàng Thương mại Séc, nhưng sau đó (Vodova, 2013) tiếp tục nghiên cứu tại các NHTM Hungary, hơn nữa nhận ra sự ngược chiều giữa hai biến này.
Doriana Cucinelli (2013) cũng đưa ra các kết quả khác nhau với những biến được đề cập chính được tính toán theo hai cách khác nhau thể hiện tính thanh khoản của ngân hàng.