Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về luận văn thạc sĩ, đưa ra cái nhìn tổng quan về sự cần thiết của việc thực hiện đề tài; mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Vấn đề chính và những nội dung cụ thể của bài nghiên cứu sẽ được trình bày trong các chương tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chương 2. TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khả năng sinh lời của NHTM 2.1 Khái niệm Theo Luật các tổ chức tín dụng ban hành ngày 16/06/2010, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Lợi nhuận là mối quan tâm hàng đầu của ngân hàng, là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng như để đánh giá sự phát triển bền vững của một ngân hàng. Tuy nhiên, khi đánh giá lợi nhuận của ngân hàng, cần xem xét lợi nhuận trong các mối tương quan với nguồn vốn, tài sản, khả năng bù đắp chi phí và những thất thoát xảy ra cũng như khả năng bảo toàn và phát triển vốn. Để có lãi, các ngân hàng phải tạo ra nguồn thu nhập ngày càng tăng cho mình, phải tiết kiệm chi phí hoạt động tới mức hợp lý, đồng thời phải hạn chế được những rủi ro, thất thoát thông qua các chính sách, biện pháp quản lý và phải tạo ra cơ cấu nguồn vốn và tài sản hợp lý. Harward và Upton (1961, trang 147) phát biểu rằng : “Khả năng sinh lời là khả năng của một sự đầu tư nhất định có thể tạo ra lợi nhuận”.
Khả năng sinh lời cho thấy tính hiệu quả của việc quản lý các nguồn lực sẵn có trên thị trường để có thể tạo ra lợi nhuận. Tuy nhiên, một ngân hàng có khả năng sinh lời cao chưa hẳn là đã tốt, để có mức khả năng sinh lời như vậy, có thể ngân hàng này đã chấp nhận một cơ cấu tài sản có rủi ro cao. Như vậy, có thể định nghĩa khả năng sinh lời là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà ngân hàng nắm giữ để tạo ra lợi nhuận.2 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của NHTM Khả năng sinh lời thông thường được đo lường thông qua các chỉ số tài chính: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Bên cạnh đó, còn có các chỉ tiêu khác như: tỷ lệ sinh lời hoạt động, chênh lệch lãi suất bình quân.1 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường.
Lợi nhuận sau thuế ROE = Vốn chủ sở hữu (Vốn tự có bình quân) ROE đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng. Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vốn vào ngân hàng. ROE phụ thuộc vào khả năng sinh lời của tài sản mà ngân hàng nắm giữ và cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng. ROE của ngân hàng sẽ tăng nếu hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng tăng hoặc tỷ trọng vốn chủ sở hữu của ngân hàng trên tổng nguồn vốn giảm.
Theo thông lệ quốc tế, ROE từ 15% trở lên là đạt yêu cầu. Mở rộng chỉ tiêu ROE: Lợi nhuận sau thuế Tổng thu nhập Tổng tài sản ROE = x x Tổng thu nhập Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu (1) (2) (3) Trong đó: (1) Tỷ lệ sinh lời hoạt động: phản ánh hiệu quả của việc quản lý chi phí và các chính sách giá dịch vụ. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ ngân hàng kiểm soát tốt các nguồn thu và giảm được chi phí hoạt động. (2) Hiệu quả sử dụng tài sản: phản ánh các chính sách quản lý danh mục đầu tư đặc biệt là cấu trúc và thu nhập của tài sản.
(3) Tỷ trọng vốn chủ sở hữu: phản ánh chính sách đòn bẩy tài chính. Tỷ trọng này càng lớn thì rủi ro phá sản của ngân hàng càng cao nhưng đổi lại thu nhập của cổ đông càng lớn.2 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Lợi nhuận sau thuế ROA = Tổng tài sản ROA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. Đây là chỉ số được sử dụng rộng rãi trong phân tích hiệu quả hoạt động và đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng.
ROA thấp cho thấy kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không năng động, hay chi phí hoạt động của ngân hàng quá cao. Ngược lại, ROA cao phản ánh hiệu quả hoạt động tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý. Tuy nhiên, với mức sinh lời quá lớn cũng có thể ngân hàng phải đối mặt với những rủi ro lớn do ngân hàng thực hiện các khoản đầu tư quá mạo hiểm hoặc giảm dự trữ xuống quá mức cần thiết. Theo khung an toàn Camel, ROA trên 1% là đạt yêu cầu.3 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) Thu nhập lãi – Chi phí lãi NIM = Tổng tài sản có sinh lãi NIM giúp cho ngân hàng dự báo trước khả năng sinh lãi của ngân hàng thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và việc tìm kiếm những nguồn có chi phí thấp nhất.4 Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NNIM) Thu nhập ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi NNIM = Tài sản có sinh lãi NNIM đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi với mức phí ngoài lãi.5 Tỷ lệ sinh lời hoạt động (NPM) Thu nhập sau thuế NPM = Tổng thu từ hoạt động NPM phản ánh hiệu quả của việc quản lý chi phí và các chính sách định giá dịch vụ.6 Chênh lệch lãi suất bình quân Chênh lệch lãi Thu từ lãi Tổng chi phí lãi = - suất bình quân Tổng tài sản sinh lời Tổng nguồn phải trả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Chênh lệch lãi suất bình quân là chênh lệch lãi suất đầu vào và lãi suất đầu ra của ngân hàng.
Đây là chỉ tiêu truyền thống đánh giá thu nhập của ngân hàng, đo lường hiệu quả đối với hoạt động trung gian của của ngân hàng trong quá trình huy động vốn và cho vay, đồng thời đo lường cường độ cạnh tranh trong thị trường của ngân hàng. Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, chệch lệch lãi suất bình quân của ngân hàng sẽ giảm khi cường độ cạnh tranh tăng lên, buộc ngân hàng phải tìm cách bù đắp mức chênh lệch lãi suất bị mất đi.7 Tỷ lệ tài sản sinh lời Tổng tài sản sinh lời Tỷ lệ tài sản sinh lời = Tổng tài sản Trong đó, tổng tài sản sinh lời bao gồm các khoản cho vay, các khoản cho thuê, đầu tư chứng khoán (còn bằng Tổng tài sản – Tài sản không sinh lời). Tỷ lệ này cho thấy tài sản sinh lời chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản của ngân hàng. Khi tỷ lệ này giảm sẽ làm giảm mức thu nhập hiện tại của ngân hàng.3 Ý nghĩa của việc nâng cao khả năng sinh lời của NHTM 2.1 Đối với ngân hàng thương mại Ngân hàng hay bất cứ một doanh nghiệp nào khác đều hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, khả năng sinh lời và tăng trưởng.
Đối với ngân hàng, khả năng sinh lời có ý nghĩa rất lớn, khả năng sinh lời phản ánh kết quả hoạt động, đánh giá hiệu quả kinh doanh và mức độ phát triển của một NHTM. Đứng trên góc độ NHTM, một ngân hàng có khả năng sinh lời cao sẽ tạo điều kiện tích lũy, gia tăng và đa dạng hóa nguồn vốn, làm cơ sở cho việc tạo ra các tài sản sinh lời. Bên cạnh đó, việc nâng cao khả năng sinh lời là điều kiện để các ngân hàng bảo toàn vốn, mở rộng thị trường cho vay, đầu tư vào việc đổi mới công nghệ thu hút khách hàng. Đứng trên góc độ nhà đầu tư, người gửi tiền sẽ quyết định giao dịch khi nhìn thấy NHTM đó hoạt động hiệu quả.
Đối với các NHTM niêm yết, khả năng sinh lời là một trong những thông tin quan trọng để các nhà đầu tư xem xét khi nắm giữ cổ phiếu ngân hàng. Do đó, ngân hàng có khả năng sinh lời cao sẽ thu hút được nhà LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 đầu tư, giúp ngân hàng dễ dàng hơn trong huy động vốn, đồng thời nâng cao uy tín của ngân hàng trong mắt nhà đầu tư trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, giữa khả năng sinh lời và rủi ro có mối quan hệ đánh đổi: khả năng sinh lời càng cao thì rủi ro càng cao. Vì vậy, các nhà quản trị ngân hàng luôn luôn phải cân bằng giữa sự đánh đổi rủi ro và khả năng sinh lời, cũng như có các giải pháp nâng cao quản trị rủi ro.2 Đối với nền kinh tế Ngân hàng là thành phần quan trọng của nền kinh tế, khả năng sinh lời của ngân hàng là động lực, đòn bẩy của nền kinh tế xã hội.
Sự ổn định và phát triển của ngân hàng là cơ sở đảm bảo cho sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế. Do vậy, khi các ngân hàng hoạt động hiệu quả, khả năng sinh lời cao thì sẽ đảm bảo cho sự ổn định của thị trường tài chính và sự tăng trưởng của nền kinh tế. Khả năng sinh lời cao sẽ là yếu tố làm cho khu vực tài chính lành mạnh hóa, góp phần ổn định thị trường tiền tệ, kiềm chế lạm phát. Trong môi trường cạnh tranh quốc tế, nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng là cách tốt nhất để giúp ngân hàng phát triển một cách bền vững, từ đó thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển, tăng uy tín quốc gia.2 Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của NHTM Khả năng sinh lời là điều kiện quyết định để ngân hàng hoạt động hiệu quả.
Việc nâng cao khả năng sinh lời đòi hỏi ngân hàng phải xác định các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời.