chương 1, tác giả đã nêu rõ lý do chọn đề tài, xác định mục tiêu, đối tượng cùng phạm vi nghiên cứu đề tài. Đồng thời tác giả cũng giới thiệu về Ngân hàng Phương Đông và Chi nhánh thực tập, giúp người đọc có một cái nhìn tổng quan. Từ đó làm tiền đề để nghiên cứu chương 2: “ Cơ sở lý thuyết về cho vay ngắn hạn”. 12 c CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHO VAY NGẮN HẠN 2.
Hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại: 2. Khái niệm: Trong quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo quyết định số 284/2000/QĐ/NHNN ngày 25/8/2000 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho vay được định nghĩa như sau : “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của Ngân hàng, để tài trợ cho chi tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan Chính phủ. Đối với hầu hết khách hàng, cả doanh nghiệp lẫn cá nhân, ngân hàng là một trong những nguồn vốn sẵn có rẻ nhất và linh hoạt nhất.
Đặc điểm: Hoạt động cho vay có những đặc điểm sau: - Cho vay là sự chuyển nhượng có thời hạn: Ngân hàng là trung gian tài chính “ đi vay để cho vay”, nên mọi khoản cho vay đều phải có thời hạn đảm bảo cho Ngân hàng hoàn trả nguồn vốn huy động. Thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì người vay mới có điều kiện trả nợ đúng hạn. - Cho vay phải dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả lãi và gốc với cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện khi đến hạn: có như vậy mới bù đắp được chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận cho Ngân hàng. Đối với nền kinh tế: Vai trò kinh tế cơ bản của hoạt động cho vay của Ngân hàng là luân chuyển vốn từ những người ( cá nhân, hộ gia đình, công ty và Chính phủ) có nguồn vốn thặng dư đến những người thiếu.
Nếu không có Ngân hàng thì việc luân chuyển vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế sẽ “ách tắc”. Kênh luân chuyển vốn qua Ngân hàng có ý nghĩa rất lớn, thúc đẩy hiệu quả của nền kinh tế. 13 c Hoạt động cho vay phân bố hiệu quả các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế. Thông qua hoạt động cho vay mà vốn từ những người thiếu các dự án đầu tư hiệu quả được chuyển tới những người có dự án đầu tư hiệu quả hơn nhưng thiếu vốn.
Kết quả kinh tế tăng trưởng, tạo công ăn việc làm, tăng năng suất lao động. Thông qua khoản vay vào những ngành, nghề, khu vực kinh tế trọng điểm sẽ thúc đẩy phát triển ngành nghề đó, hình thành cơ cấu hiện đại, hợp lý và hiệu quả. Ngoài ra, cho vay còn góp phần lưu thông tiền tệ, hàng hóa, điều tiết thị trường, kiểm soát giá trị đồng tiền, thúc đẩy mở rộng giao lưu kinh tế giữa các nước. Hoạt động cho vay của Ngân hàng mang lại nguồn thu ngân sách Nhà nước thông qua thuế thu nhập và lãi từ ủy thác vốn đầu tư Chính phủ, là kênh truyền tải vốn tài trợ Nhà nước đến nông nghiệp, nông thôn, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định chính trị, xã hội.
Đối với khách hàng: Hoạt động cho vay đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng vốn cho khách hàng với các ưu điểm như an toàn, thuận tiện, nhanh chóng, dễ tiếp cận và có khả năng đáp ứng nhu cầu vốn lớn, cùng nhu cầu đa dạng. Hoạt động cho vay của Ngân hàng giúp nhà đầu tư nắm bắt được những cơ hội kinh doanh, mở rộng sản xuất; các cá nhân có đủ khả năng tài chính để trang trải các khoản chi tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống. Đối với Ngân hàng: Hoạt động cho vay là hoạt động truyền thống, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng. Dù tỷ trọng của hoạt động cho vay có xu hướng giảm nhưng vẫn là nghiệp vụ quan trọng nhất đối với mỗi Ngân hàng.
Thông qua hoạt động cho vay, Ngân hàng đa dạng hóa được danh mục tài sản có, mở rộng được các loại hình dịch vụ khác như: thanh toán, thu hút tiền gửi, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn… 2. Các hình thức cho vay: 2. Phân loại theo thời hạn cho vay: - Cho vay ngắn hạn: các khoản vay có thời hạn dưới một năm. Đối với khách hàng cá nhân, các khoản vay thực hiện theo hình thức cho vay từng lần hoặc phát hành thẻ tín dụng.
Đối với khách hàng doanh nghiệp thì có thể thông qua hình thức cho vay từng 14 c lần hoặc cấp hạn mức tín dụng. Các khoản vay ngắn hạn có rủi ro thấp hơn cho vay trung dài hạn do lãi suất thấp hơn và thời hạn ngắn hơn. - Cho vay trung dài hạn: thời hạn cho vay từ trên một năm đến năm năm với khoản vay trung hạn, từ trên năm năm với các khoản vay dài hạn. Các khoản vay này thường có giá trị lớn, dùng để mua sắm đất đai, nhà cửa, mua sắm thiết bị hoặc đầu tư xây dựng.
Do rủi ro cao hơn cho vay ngắn hạn nên cho vay trung dài hạn yêu cầu lãi suất cao hơn và thường dùng tài sản cố định làm tài sản đảm bảo. Phân loại theo mục đích vay: - Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: dành cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hóa - Tín dụng bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm, xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ - Tín dụng công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ - Tín dụng nông nghiệp: là loại tín dụng trang trải các chi phí sản xuất (phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc…) - Tín dụng tiêu dùng: dành cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ( mua sắm nhà cửa, xe…). Tín dụng tiêu dùng được thể hiện bằng hình thức tiền hoặc bán chịu hàng hóa, việc cấp tín dụng bằng tiền thường do ngân hàng, quỹ tiết kiệm, các tổ chức tín dụng khác cung cấp. Ngoài ra, còn có hình thức tín dụng được biểu hiện dưới hình thức bán trả góp do các công ty, cửa hàng thực hiện.
Phân loại theo mức độ tín nhiệm với khách hàng: - Tín dụng không đảm bảo: là tín dụng không có tài sản thế chấp, chỉ cho vay đối với những khách hàng quen thuộc, được tín nhiệm, có nguồn vốn mạnh, hoạt động kinh doanh ổn định có lời hoặc những đối tượng do Chính phủ quy định. - Tín dụng có đảm bảo: là tín dụng có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc được bảo lãnh của chính bên vay hoặc tài sản hình thành từ vốn vay hoặc tài sản được thế chấp, cầm cố bởi bên thứ ba 15 c 2. Phân loại theo phương pháp hoàn trả: - Tín dụng trả góp: là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi vay theo định kỳ, thường áp dụng với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền. Loại hình này rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hoá mua trả góp.
- Tín dụng phi trả góp: là loại tín dụng mà vốn gốc được trả một lần khi đáo hạn - Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: là loại tín dụng mà người vay có thể hoàn trả nhiều lần theo khả năng trong thời hạn hợp đồng. Ngoài các hình thức trên, ngân hàng có thể cho vay theo các phương thức mà pháp luật không cấm, phù hợp với các quy định tại các Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng, điều kiện kinh doanh của tổ chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay. Ví dụ như cho vay theo dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. Hoạt động cho vay ngắn hạn: 2.
Khái niệm: Cho vay ngắn hạn là việc Ngân hàng sử dụng nguồn vốn của mình cho các chủ thể có nhu cầu vay, thu hồi cả gốc và lãi trong thời hạn dưới 12 tháng. Đặc điểm: Ngoài những đặc điểm chung của hoạt động cho vay, hoạt động cho vay ngắn hạn còn có những nét riêng biệt: - Rủi ro thấp: do khoản vay chỉ cung cấp trong thời gian ngắn hạn nên ít chịu ảnh hưởng không lường trước được của nền kinh tế - Thời gian hoàn vốn nhanh, số vòng quay vốn nhiều: nguồn vốn cho vay ngắn hạn thường dùng bù đắp cho những thiếu hụt trong ngắn hạn mang tính tạm thời, nên Ngân hàng sẽ sớm thu hồi được những khoản vay và tiếp tục sử dụng vốn cho vay, gia tăng số vòng quay vốn của mình. - Lãi suất thấp: do thời hạn vay ngắn, rủi ro thấp nên lãi suất cho vay ngắn hạn không cao như cho vay trung dài hạn - Hình thức cho vay phong phú: để đáp ứng nhu cầu của đa dạng của khách hàng, góp phần phân tán rủi ro, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, Ngân hàng không ngừng phát triển các hình thức cho vay ngắn hạn. Các loại rủi ro cho vay: - Nợ quá hạn: là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn trả nợ như thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín dụng.
Chỉ tiêu này ảnh hưởng đáng kể đến tính thanh khoản và rủi ro thanh khoản của ngân hàng, ảnh hưởng đến chi phí gia tăng làm giảm thu nhập của Ngân hàng. - Nợ khó đòi: là khoản nợ quá hạn đã qua một kỳ gia hạn nợ. Những khoản nợ này ngân hàng phải có những biện pháp thích hợp để thu lại tiền vay sao cho hợp lý nhất. Bởi vì các khoản nợ này hi vọng thu lại tiền là khó, lúc này khả năng chi trả của khách hàng ngày càng hạn hẹp.
Loại nợ này chứa đựng rủi ro cao và thường mang lại tổn thất cho ngân hàng. - Rủi ro lãi suất: là loại rủi ro do sự biến động của yếu tố tiền tệ. Lạm phát tăng, lãi suất buộc phải điều chỉnh theo xu hướng tăng lên, dẫn đến chi phí của ngân hàng tăng lên, trong khi thu nhập ở tài sản dài hạn vẫn giữ nguyên, nên thu nhập sẽ không bù đắp chi phí kinh doanh, ảnh hưởng đến nguồn vốn của ngân hàng.