Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ SINH LỜI TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại NHTM là một tổ chức trung gian tài chính làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế hay nói cụ thể hơn thì NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, nhận tiền gửi từ các tác nhân trong nền kinh tế, sau đó thực hiện các nghiệp vụ cho vay và đầu tư vào các tài sản có khả năng sinh lời khác, đồng thời thực hiện cung cấp đa dạng các danh m ục dịch vụ tài chính, tín dụng, thanh toán cho các tác nhân trong nền kinh tế. NHTM có các chức năng trung gian tín dụng, Chức năng trung gian thanh toán, Chức năng tạo ra tiền bút tệ theo cấp số nhân Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại gồm Các nghiệp vụ trong bảng tổng kết tài sản (Nghiệp vụ nguồn vốn, Nghiệp vụ sử dụng vốn, Dịch vụ ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác) và các Nghiệp vụ ngoài bảng tổng kết tài sản.
Hiệu quả sinh lời trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 1. Tổng quan về hiệu quả sinh lời trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại: Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm hiệu quả kinh doanh. Có quan điểm cho rằng hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí phải bỏ ra để đạt được kết quả đó. Manfred Kuhn cho rằng: Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh.
Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá". Theo ECB (European Central Bank) (9/2010) hiệu quả hoạt động là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững. Lợi nhuận thu được đầu tiên dùng dự phòng cho các khoản lỗ bất ngờ và tăng cường vị thế về vốn, rồi cải thiện lợi nhuận thu được trong tương lai thông qua đầu tư từ các khoản lợi nhuận giữ lại. Có thể hiểu một cách khái quát hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) để đạt được mục tiêu xác định.
Trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra, để xem xét với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra kết quả ở mức độ nào. Tóm lại, hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng các hoạt động kinh doanh, trình độ nguồn lực sản xuất trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trong sự vận động không ngừng của các quá trình sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào tốc độ biến động của từng nhân tố. NHTM cũng là một loại hình doanh nghiệp, trên góc độ này người ta có thể nghiên cứu hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ. Theo Adel Bino & Shorouq Tomar (2007) khi xét về mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động ngân hàng, hai ông định nghĩa đơn giản: hiệu quả hoạt động là kết quả cuối cùng của hoạt động đó.Rose giáo sư kinh tế học và tài chính trường đại học Yale thì về bản chất NHTM cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép.
Theo quan điểm của một số nhà kinh tế thì hiệu quả ngân hàng phải được đánh giá ở hai khía cạnh: hiệu quả kinh doang đối với xã hội và hiệu quả kinh doanh đối với bản thân ngân hàng. Trong số đó, nhà kinh tế học người Nga Kisileva.A cho rằng trong hoạt động của thị trường tài chính ngoài hiệu quả cụ thể có thế cân đếm được, hoạt động tài chính còn mang lại hiệu quả gián tiếp cho nền kinh tế - xã hội. Hiệu quả kinh tế - xã hội mà hoạt động kinh doanh của ngân hàng đem lại cho nền kinh tế quốc dân là sự đóng góp của nó vào việc phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tích luỹ ngoại tệ, tăng thu cho ngân sách, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân. Giữa hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội có quan hệ nhân quả và tác động qua lại với nhau.
Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có thể đạt được trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các ngân hàng. Hiệu quả kinh doanh bản thân NH là hiệu quả kinh doanh thu được từ các hoạt động thương mại của NH khi kinh doanh. Theo thông tư của bộ tài chính số LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 49/2004/TT-BTC ngày 3 tháng 6 năm 2004 hướng dẫn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các tổ chức tín dụng, Hiệu quả bản thân NH được đánh giá thông qua các nhóm chỉ tiêu: Hiệu quả tài chính hay còn gọi là hiệu quả sản xuất kinh doanh là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi 1 NH. Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà NH nhận được và chi phí mà NH bỏ ra để có được lợi ích kinh tế.
Hiệu quả tài chính NH thể hiện khả năng trực tiếp mang lại hiệu quả cho NH: làm lợi cho NH một trong các chỉ tiêu hoặc một số chỉ tiêu hoặc tất cả các chỉ tiêu lợi nhuận, số lượng khách hàng, tăng thị phần, ….Hiệu quả tài chính phản ánh kết quả hoạt động tài chính của NH, được thể hiện qua các chỉ tiêu tài chính của NH: Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng huy động vốn: Tốc đô tăng trưởn Số dư vốn huy động kỳ này = - 1) x 100% huy động vốn (%) Số dư vốn huy động kỳ trước Tình trạng TSCĐ: Chỉ tiêu phản ánh tình hình tín dụng: Chỉ tiêu phân tích khả năng sinh lời: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) - Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên - Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA: Return On Assets) ợ ℎ ậ ℎ ế = 100 à ả ó ì ℎ â - Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE: Return On Equity) ợ ℎ ậ ℎ ế = 100 ố ự ó ì ℎ â • Năng lực thị phần • Năng lực nguồn nhân lực • Năng lực quản trị • Năng lực công nghệ • Năng lực cạnh tranh hệ thống kênh phân phối và mức độ đa dạng hóa dịch vụ cung cấp • Hệ thống kênh phân phối • Mức độ cung cấp dịch vụ mới Trong hệ thống các chỉ tiêu trên, bài nghiên cứu chỉ chú trọng đi vào nhóm các chỉ tiêu sinh lời mà cụ thể là 02 chỉ tiêu ROA và ROE. Khả năng sinh lời là chỉ tiêu phản ánh tổng hợp tình hình kinh doanh. Thông qua khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng được đánh giá một cách đầy đủ về mọi mặt. Khả năng sinh lời của NHTM gắn liền với chất lượng tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản của NHTM.
Nâng cao chất lượng tài sản, chất lượng nguồn vốn cũng chính là nâng cao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Khả năng sinh lời là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh doanh và mức độ phát triển của 1 NHTM. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả sinh lời trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại: Để đo lường khả năng sinh lời của các NHTM có nhiều tỷ lệ sử dụng trong đó lợi nhuận ròng trên tài sản có (ROA) và chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên vốn tự có (ROE) là những chỉ tiêu chính thường được sử dụng. ROA, ROE thường được sử dụng rộng rãi trong nhiều bài nghiên cứu về hiệu quả hoạt động ngân hàng, điển hình là các bài Kunt và Huizinga (1994), Cavallo và majnoni (2001), Ben Naceur (2003), Davis và Zhu (2005), Toni Uhomoibhi (2008), Husni Ali Khrawish (2011), (Murthy và Sree, 2003; Alexandru và cộng sự, 2008)… ROA là một chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tính hiệu quả quản lý.
Nó chỉ ra rằng khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. ROA được sử dụng rộng rãi trong phân tích hiệu quả hoạt động và đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng, nếu mức ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không năng động hoặc có thể chi phí hoạt động của ngân hàng quá mức. Ngược lại, mức ROA cao thường phản ánh kết quả của hoạt động hữu hiệu, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh tế. ROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản).
Tài sản của một ngân hàng được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng. TheoKhrawish, 2011 chỉ ra rằng ROA đánh giá hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận. ROA càng cao thì càng tốt vì ngân hàng đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít.
Nói cách khác, nó cho thấy tính hiệu quả của các nguồn lực của công ty được sử dụng để tạo ra thu nhập. ROA cho thấy sự hiệu quả của công tác quản lý của một ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập ròng từ tất cả các nguồn lực của tổ chức (Khrawish, 2011), Wen (2010). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Thông qua các thành phần cấu tạo ROA, nhà quản trị ngân hàng nhận biết được nguyên nhân làm ROA biến động tăng/giảm nằm ở nhân tố nào, từ đó ngân hàng sẽ có các biện pháp hữu hiệu để điều chỉnh ROA phù hợp với kế hoạch đã định. ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng.
Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng (tức là chấp nhận rủi ro để hy vọng có được thu nhập ở mức hợp lý). Chỉ tiêu này cũng được sử khá phổ biến trong phân tích hiệu quả hoạt động nhằm phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu.