mở đầu cho một cuộc chiến mới kéo dài gần nửa thế kỷ, đó là chiến tranh lạnh giữa phe Xã hội chủ nghĩa và phe Tư bản chủ nghĩa, mà đứng đầu là Liên Xô và Hoa Kỳ. Hai cường quốc này thực thi nhiều biện pháp, đặc biệt là về kinh tế để củng cố hệ thống đồng minh của mình. Năm 1944, tại Bretton Wood, Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế (IBRD) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) được thành lập với nhiệm vụ ban đầu của nó là cho vay ưu đãi với mục đích xây dựng lại các nước Châu Âu bị chiến tranh tàn phá, phát triển các nước phi công nghiệp thuộc Mỹ Latinh, các nước Châu Á, Châu Phi và vùng Caribê. Khoản vay đầu tiên được giải ngân vào năm 1947 cho Pháp, Hà Lan, Đan Mạch và Luxembourg.
Đối với Hoa Kỳ, nền kinh tế không những không bị tàn phá mà ngày càng giàu có nhờ chiến tranh. Tuy nhiên, các nước đồng minh của Hoa Kỳ lại chịu tác động nặng nề của cuộc chiến tranh. Sự yếu kém về kinh tế của các nước này khiến Hoa Kỳ lo ngại về vị thế của Chủ nghĩa tư bản trên thế giới. Do đó, năm 1947, Hoa Kỳ triển khai kế hoạch Marshall, viện trợ cho 16 quốc gia Tây Âu với tổng giá trị lên đến 13,3 tỷ USD (tương đương 10% GDP của các nước tiếp nhận và 4% GDP của Hoa Kỳ lúc bấy giờ) [26].
Về phía Liên Xô cũng sử dụng biện pháp trợ giúp kinh tế để củng cố và gia tăng số lượng các nước gia nhập Chủ nghĩa xã hội. Với tinh thần “quốc tế vô sản” Liên Xô cũng đã tài trợ cho nhiều quốc gia trên thế giới, từ các nước ở châu Âu, châu Á, đến châu Phi và Mỹ La-tinh. 8 Đến năm 1960, trước sự đấu tranh mạnh mẽ của các nước đang và kém phát triển, cộng với nhận thức thay đổi của các nước giàu đối với sự phát triển của các nước nghèo, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) thành lập Ủy ban Hỗ trợ phát triển (DAC). Ủy ban này có nhiệm vụ yêu cầu, khuyến khích và điều phối viện trợ của các nước OECD cho các nước đang và kém phát triển.
Kể từ khi bản báo cáo đầu tiên của DAC ra đời vào năm 1961, thuật ngữ ODA được chính thức sử dụng, với ý nghĩa là sự trợ giúp có ưu đãi về mặt tài chính của các nước giàu, các tổ chức quốc tế cho các nước nghèo. Khái niệm về nguồn vốn ODA ODA là tên gọi tắt của Official Development Assistance, có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức. Tuỳ theo từng cách lựa chọn và tiếp cận khác nhau mà có nhiều khái niệm ODA khác nhau. Theo tổ chức OECD [35] thì ODA là một khoản viện trợ do các cơ quan chính thức, các tổ chức phát triển đa phương, song phương cung cấp cho các quốc gia và vùng lãnh thổ có nền kinh tế kém phát triển hoặc đang phát triển với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, gia tăng phúc lợi của các nước này và đặc biệt trong mỗi khoản hỗ trợ cần đạt ít nhất 25% yếu tố không hoàn lại.
Bên cạnh đó, theo Luật số 29/2009/QH12 được Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2009 thì ODA có thể được hiểu như sau: Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là khoản vay nhân danh Nhà nước, Chính phủ Việt Nam từ nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, tổ chức tài trợ song phương, tổ chức liên quốc gia hoặc tổ chức liên chính phủ có yếu tố không hoàn lại (thành tố ưu đãi) đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có ràng buộc, 25% đối với khoản vay không ràng buộc. Đến ngày 23 tháng 4 năm 2013, Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị định số 38/2013/NĐ-CP về quản lý và sử dụng ODA và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ. Trong đó quy định: "ODA là nguồn vốn của Chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế, các tổ chức liên chính 9 phủ hoặc liên Quốc gia (gọi tắt là Nhà tài trợ) cung cấp cho Nhà nước hoặc Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam dưới 2 hình thức: (i) ODA viện trợ không hoàn lại và (ii) ODA vốn vay tức là phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ, yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 35% với khoản vay có ràng buộc và 25% đối với khoản vay không ràng buộc". Qua các khái niệm trên, ODA được hiểu như sau: ODA là khoản viện trợ của các tổ chức quốc tế, Chính phủ các nước (thường là các nước phát triển) dành cho các quốc gia kém phát triển hoặc đang phát triển dưới hình thức hỗ trợ không hoàn lại hoặc có hoàn lại, nhưng tỷ lệ ưu đãi không hoàn lại (phần cho không cộng với các ưu đãi về lãi suất, thời hạn vay, thời gian ân hạn… ) phải chiếm ít nhất 35% với khoản vay có ràng buộc và 25% đối với khoản vay không ràng buộc nhằm hỗ trợ chính phủ nước đó thực hiện mục tiêu chung là phát triển kinh tế - xã hội.
Phân loại nguồn vốn ODA Nguồn vốn ODA có thể được phân theo bốn tiêu chí như sau: cách hoàn trả vốn, nguồn cung cấp, mục đích sử dụng, cơ chế quản lý. Phân loại theo cách hoàn trả vốn ODA được chia thành ba loại Viện trợ không hoàn lại: là hình thức ODA cho không, bên tiếp nhận vốn không phải hoàn trả cho bên tài trợ. Đây là hình thức cung cấp các khoản tài chính để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội mà không đi kèm bất kỳ nghĩa vụ trả nợ nào. Tuy nhiên bên tiếp nhận phải chịu trách nhiệm sử dụng nguồn vốn trên vào việc thực hiện những dự án, chương trình mà hai bên đã thoả thuận từ trước.
Vốn này được coi là một nguồn thu ngân sách của nước tiếp nhận. Viện trợ có hoàn lại (vốn vay): là khoản tín dụng ưu đãi (hay còn gọi là cho vay ưu đãi), tức là cho vay với những điều kiện ưu đãi như khoản vay này có lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất thị trường, hoặc không lãi mà chịu phí dịch vụ, thời hạn vay và thời hạn trả nợ dài, có thời gian ân hạn. Hiện nay, tín dụng ưu đãi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn vay ODA trên thế giới, mục đích khoản vay này chủ yếu giúp các nước đi vay đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, phát triển kinh tế 10 xã hội thông qua chương trình, dự án hoặc bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước. Viện trợ hỗn hợp: là hình thức đặc biệt của ODA, áp dụng một phần viện trợ không hoàn lại và một phần cho vay ưu đãi.
Thậm chí, trong trường hợp đặc biệt, ODA có thể gồm ba loại hình: một phần vốn không hoàn lại, một phần vốn vay ưu đãi, một phần tín dụng thương mại (lãi suất theo thị trường). Phân loại theo nguồn cung cấp Dựa trên tiêu chí nguồn cung cấp thì ODA được chia thành hai loại là Viện trợ song phương và Viện trợ đa phương Viện trợ song phương: Là khoản viện trợ trực tiếp từ nước phát triển cho nước kém hoặc đang phát triển thông qua việc ký kết Hiệp định giữa hai Chính phủ với nhau. Hiện nay viện trợ song phương chiếm tỷ trọng cao trong tổng số vốn ODA của thế giới. Một số cơ quan viện trợ song phương lớn ngày nay như USAID, DfID, JICA.
Viện trợ đa phương: Là hình thức viện trợ chính thức ODA của một tổ chức quốc tế hay tổ chức khu vực (như WB, IMF, ADB, EU), hoặc của một nước dành cho Chính phủ nước khác nhưng được thực hiện thông qua tổ chức đa phương (như UNDP, UNICEF). Phân loại theo mục đích sử dụng Theo mục đích sử dụng, ODA được phân thành 4 loại: Hỗ trợ dự án đầu tư phát triển, Hợp tác kỹ thuật, Hỗ trợ ngân sách, Hỗ trợ khác. Hỗ trợ dự án đầu tư phát triển Đây là một hình thức đầu tư vào một công trình xây dựng, thiết kế cụ thể để trực tiếp tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững (như công trình giao thông công cộng, giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo hoặc dự án nông – lâm – ngư nghiệp). Chủ yếu là hình thức đầu tư cơ bản sử dụng khoản vay với lãi suất ưu đãi.
Chính phủ các nước tiếp nhận trực tiếp chuẩn bị chi tiết dự án, tổ chức đầu tư, quản lý dự án và có trách nhiệm trả nợ phần vốn vay. Hợp tác kỹ thuật: là các khoản tài trợ thường kèm theo tín dụng ưu đãi, nhằm mục đích chủ yếu là đào tạo, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực tổ 11 chức và quản lý tại nước tiếp nhận, nâng cao năng lực sử dụng vốn viện trợ, đồng thời thực hiện cải cách thể chế, chính sách và cơ cấu kinh tế xã hội. Hình thức hỗ trợ này thường được diễn ra theo hai phương án: đào tạo trực tiếp tại nước tiếp nhận hoặc đưa đi nghiên cứu khảo sát thực tiễn tại nước viện trợ. Về mặt kinh tế, loại hỗ trợ này không có đầy đủ các yếu tố của hoạt động đầu tư và do vậy thường là các khoản viện trợ không hoàn lại.
Hỗ trợ ngân sách Đây là một hình thức hỗ trợ hiếm gặp, chủ yếu nó diễn ra trong giai đoạn đầu khi bên tài trợ và bên tiếp nhận mới quan hệ hợp tác. Dạng hỗ trợ này có thể được thực hiện dưới dạng hàng hoá và tiền mặt. Đối với tiền mặt, loại vốn này giúp chính phủ các nước mất cân đối cán cân thanh toán (như Anh Quốc và một số nước đang hỗ trợ ngân sách cho Tanzania). Đối với hàng hóa, Chính phủ các nước được tài trợ ODA tiếp nhận một lượng hàng hóa có giá trị tương đương với các khoản cam kết, mang bán cho thị trường nội địa và thu nội tệ cho ngân sách.
Trong một số trường hợp, vốn này còn giúp các nước khắc phục tình hình khủng hoảng tài chính (như các khoản IMF cho In-đô-nê-si-a, Thái Lan vay trong cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ năm 1997-1998). Hỗ trợ khác: viện trợ nhân đạo và cứu trợ, viện trợ khẩn cấp. Phân loại theo cơ chế quản lý ODA do nước tiếp nhận điều hành: là loại ODA mà nước tiếp nhận trực tiếp điều hành việc thực hiện dự án dựa trên các văn bản đã được ký kết, hay thỏa thuận từ trước giữa các bên.