Chương 1. Giới thiệu Chương 2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chương 3. Phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu Chương 5. Kết luận, kiến nghị chính sách và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Các quan điểm về an toàn vốn Định nghĩa về an toàn vốn theo từ điển Cambridge (Cambridge Dictionary) như sau: “Capital adequacy: a measure of a bank's or other financial institution's ability to pay its debts if people or organizations are unable to pay back the money they have borrowed from the bank” 1, có thể định nghĩa an toàn vốn là thước đo khả năng thanh toán các khoản nợ của ngân hàng hoặc tổ chức tài chính khác khi cá nhân hoặc tổ chức không thể trả lại số tiền họ đã vay từ ngân hàng. Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng là một trong 5 ủy ban quan trọng “ của Ngân hàng thanh toán quốc tế được thành lập như một Ủy ban về thông lệ và thực hiện giám sát an toàn hoạt động ngân hàng bởi ngân hàng trung ương thuộc Chính phủ của 10 nước thuộc nhóm G-10 vào cuối năm 1974; Ủy ban đã đưa ra một hệ thống đo lường an toàn vốn được gọi là Hiệp ước Basel. Theo các tiêu chuẩn về an toàn vốn của Basel thì hệ số CAR là thước đo quan trọng để đo mức độ an toàn vốn của ngân hàng, được các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực ngân hàng thuộc Ủy ban Basel dày công xây dựng và phát triển.
Hệ số an toàn vốn (CAR) là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa vốn tự có với tài sản có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng thương mại. Đến nay, hệ số CAR đã được công nhận rộng rãi và có mặt trên 100 nước, trong đó có Việt Nam. Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có CAR > 10%, có mức vốn thích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR < 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%. Các quan điểm Có khá nhiều quan điểm tranh luận đã được đưa ra về an toàn vốn.
Trong bài nghiên cứu, tác giả đề cập đến 3 quan điểm như sau: Quan điểm đầu tiên, cho rằng các quy định về an toàn vốn sẽ khuyến khích các sự tuân thủ thận trọng của các ngân hàng thương mại trong hoạt động của mình 1 Theo Cambridge Dictionary tại https://dictionary.org/us/dictionary/english/capital- adequacy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tuy nhiên, quan điểm này không đưa ra các lý giải chi tiết về việc tại sao cần có quy định về an toàn vốn thận trọng và sự tuân thủ các quy định này từ phía các ngân hàng thương mại. Quan điểm thứ hai, cho rằng quy định về an toàn vốn là một biện pháp để đối phó với các vấn đề nguy hiểm về đạo đức của các nhà quản lý (Bentson và Keufman, 1999). Quan điểm thứ ba, cho rằng quy định về an toàn vốn sẽ bảo vệ cho những người gửi tiền nhỏ trong các ngân hàng vì khi đó họ sẽ có một vai trò lớn hơn ở các ngân hàng mà họ gửi tiền.
Theo Kishore (2005), an toàn vốn là lượng tiền tối thiểu mà một tổ chức tài chính cần có để thực hiện các hoạt động kinh doanh một cách tiết kiệm và thận trọng hơn, từ đó có thể đáp ứng được nhu cầu tiền gửi của người gửi tiền. Với các quy định về an toàn vốn, các ngân hàng có thể đáp ứng được nhu cầu của họ và đồng thời đảm bảo đủ tính thanh khoản với các tài sản cơ sở. Pandey (2005) cho rằng an toàn vốn là một số vốn cơ sở được quy định đối với ngành ngân hàng để các ngân hàng có thể thực hiện các chức năng cơ bản một cách hiệu quả bằng cách ngăn ngừa sự thất bại thông qua việc hấp thụ các tổn thất. An toàn vốn là một sự bảo vệ cuối cùng nguy cơ phá sản khi những rủi ro thị trường trong ngành ngân hàng là không thể tránh khỏi.
Đây là số tiền yêu cầu tối thiểu của các ngân hàng: để duy trì sự tự tin của các ngân hàng, đảm bảo rằng yếu tố thời gian và thu nhập sẽ có thể hấp thụ những thiệt hại mà có thể tránh được việc thanh lý tài sản và cũng là để ngành ngân hàng có thể khai thác tối đa lợi thế kiếm được lợi nhuận với các cơ hội tăng trưởng. Những lý giải cho an toàn vốn Qua nhiều năm, việc thiết lập tỷ lệ vốn là một vấn đề gây tranh cãi trong ngành ngân hàng với câu hỏi vốn tối thiểu bắt buộc đối với các ngân hàng là bao nhiêu? Những lý do cho sự tranh cãi này xoay quanh hai vấn đề, đó là: - Thứ nhất, ai sẽ đặt tiêu chuẩn vốn bắt buộc cho các ngân hàng, là thị trường hay cơ quan quản lý? LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Thứ hai, những tiêu chuẩn hợp lý nào cho vốn tối thiểu ở các ngân hàng vốn? Yêu cầu vốn tổi thiểu của ngân hàng đã được quy định chặt chẽ trong nhiều thập kỷ. Các yêu cầu về vốn tối thiểu là một trong những yêu cầu cho các ngân hàng từ phía cơ quan quản lý để đảm bảo quá trình hoạt động của các ngân hàng. Theo Wall (1985), cho rằng giám sát viên chủ động điều tiết vốn ngân hàng để giảm thiểu sự mất mát của các ngân hàng, ổn định niềm tin của công chúng với các dịch vụ ngân hàng và tối thiểu các tổn thất liên quan đến chính quyền liên bang thông qua việc yêu cầu bảo hiểm tiền gửi bởi vì giả định cơ bản cho rằng bản thân thị trường tư nhân sẽ không thể thực hiện đồng thời tất cả các mục tiêu.
Các ngân hàng sẽ linh hoạt trong các hoạt động khi thực hiện giao dịch các khoản nợ ngắn hạn (thường được gọi là tiền gửi không kỳ hạn mà người gửi tiền có thể rút ngay lập tức). Chỉ có một vài ngân hàng có thể ngay lập tức thanh toán danh mục cho vay của họ trong những lần rút tiền lớn. Hơn nữa, hầu hết các nhà quản lý của các ngân hàng đều không tính đến khả năng xảy ra rủi ro bởi điều đó cũng sẽ ảnh hưởng đến các ngân hàng khác trong ngành hoặc các tổ chức tương đương. Ngân hàng lớn thất bại là một điều rất nguy hiểm và cần đặc biệt quan tâm tới vấn đề đó.
Sự thất bại của một ngân hàng lớn sẽ thu hút sự chú ý của công chúng và gây ra nhiều vấn đề bởi vì các ngân hàng lớn thường có tỷ lệ lớn tiền gửi không phải là nợ và các khoản này không được bảo hiểm. Đây là sự khôn khoan bởi vì sự thất bại của các ngân hàng lớn sẽ tạo ra ảnh hưởng lớn đến các quỹ bảo hiểm tiền gửi chính phủ so với các ngân hàng nhỏ. Phần lớn người gửi tiền cảm thấy hoàn toàn được bảo vệ nên họ ít quan tâm tới mức độ rủi ro của ngân hàng mà họ sử dụng. Khi đó, nếu các chỉ báo cho thấy một ngân hàng nào đó có rủi ro quá mức thì người gửi tiền sẽ gửi tiền vào các ngân hàng khác có mức rủi ro thấp.
Khái niệm "nguy hiểm đạo đức" của các doanh nghiệp bảo hiểm được chính phủ tài trợ sẽ khuyến khích các ngân hàng duy trì tỷ lệ vốn thấp, dẫn tới nguy cơ thua lỗ cao của các quỹ bảo hiểm của chính phủ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thước đo về an toàn vốn Trong những năm qua, ngành Ngân hàng đã có những cải cách đáng kể theo hướng thị trường và mở cửa khu vực dịch vụ tài chính – ngân hàng trước yêu cầu phát triển kinh tế và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Do đó, việc đưa vào áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế về hoạt động ngân hàng là hết sức cần thiết.
Như đã đề cập ở phần đầu chương 2, thước đo an toàn vốn hiện nay đang được áp dụng rộng rãi hầu hết tại các quốc gia là Hệ số an toàn vốn (CAR). Hệ số này được phát triển bởi Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng và thuộc một trong những tiêu chuẩn của Hiệp ước Basel. Tuy nhiên, tiêu chuẩn Basel bao gồm rất nhiều các nguyên tắc, vì vậy, với đề tài về An toàn vốn, tôi chỉ xem xét các tiêu chuẩn về an toàn vốn theo Basel và thước đo về an toàn vốn thông qua hệ số CAR. Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng “Basel là Ủy ban Giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision - BCBS) do các NHTW các nước G10 thành lập năm 1975 dưới sự bảo trợ của Ngân hàng Thanh toán quốc tế tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80.
Hiện nay, các thành viên của Ủy ban gồm đại diện ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của các nước: Anh, Bỉ, Canada, Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ, Luxembourg, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ và Ý. Ủy ban được nhóm họp 4 lần trong một năm. Hội đồng thư ký của Ủy ban Basel được đề xuất bởi Ngân hàng Thanh toán Quốc tế ở Basel, gồm 15 thành viên là những nhà giám sát hoạt động ngân hàng chuyên nghiệp được biệt phái tạm thời từ các tổ chức tín dụng tài chính thành viên. Sau một thời gian hoạt động, Ủy ban đã nghiên cứu và đưa ra các yêu cầu về an toàn vốn, được ban hành lần đầu vào năm 1988 và gọi là Basel I.
Năm 1999, Ủy ban đã đề ra 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng hữu hiệu, đây là những nguyên tắc tối thiểu và được xem là tài liệu để các cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng và các nhà quản lý tài chính tham khảo. Ủy ban Basel không có bất kỳ một cơ quan giám sát nào và những kết luận của Ủy ban này không có tính pháp lý và yêu cầu tuân thủ đối với việc giám sát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 hoạt động ngân hàng. Thay vào đó, Ủy ban Basel chỉ xây dựng và công bố những tiêu chuẩn và những hướng dẫn giám sát rộng rãi, đồng thời giới thiệu các báo cáo thực tiễn tốt nhất trong kỳ vọng rằng các tổ chức riêng lẻ sẽ áp dụng rộng rãi thông qua những sắp xếp chi tiết phù hợp nhất cho hệ thống quốc gia của chính họ.