CHƯƠNG 1. Giao thông vận tải (GTVT) “Luận cương của Mác đã định nghĩa: “Vận tải là quá trình sản xuất đặc biệt, không tác động đến đối tượng lao động mà chỉ tác động về mặt không gian lên đối tượng chuyên chở. Khi quá trình vận tải kết thúc thì sản phẩm vận tải cũng được tiêu thụ ngay. Người ta có thể quy đổi nó thành khái niệm để thanh toán, như hàng hóa có tấn hàng hóa, tấn km hàng hóa, cũng vậy, hành khách và hành khách km”.” GTVT là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt, cũng trực tiếp tạo ra giá trị và giá trị gia tăng trong quá trình thực hiện chức năng của mình.
Giữ cho huyết mạch giao thông của đất nước luôn thông suốt là nhiệm vụ của ngành. Có 5 loại hình GTVT cơ bản: Vận tải đường sắt, Vận tải đường bộ, Vận tải đường thủy, Vận tải hàng không, Vận tải bằng đường ống (đường ống vận chuyển nhiên liệu, nguyên liệu rời).” “Nhìn chung, GTVT là một ngành kinh tế – kỹ thuật tổng hợp, đa dạng, được gắn liền với kết cấu hạ tầng quốc gia, giải quyết những vấn đề sản xuất kinh doanh và lưu thông phân phối cho mỗi nước và toàn cầu bằng khoa học công nghệ hiện đại, luật pháp giao nhận minh bạch do một đội ngũ có tay nghề thực thi. Đây là một ngành vật chất đặc biệt, luôn đồng hành với sự tiến triển của nền văn minh nhân loại, tạo ra những sản phẩm mới như: container hóa cảng biển và logistics. Kết cấu hạ tầng” “Kết cấu hạ tầng (KCHT) là thuật ngữ nguyên nghĩa tiếng nước ngoài được du nhập vào nước ta.
Nếu tra cứu các từ điển tiếng Anh hay tiếng Pháp, ta đều thấy từ của nó được viết là “Infrastructure”. Theo nghĩa gốc Latinh từ này gồm 2 thành tố: “Infra” có nghĩa là ở dưới, hạ tầng, tầng dưới và “structure” có nghĩa là kết cấu, cấu trúc, kiến trúc, công trình xây dựng, công trình kiến trúc. HVTH: Phạm Văn Dũng Luận văn thạc sỹ 8 GVHD: TS.Đinh Công Tịnh Theo nghĩa hẹp, hiểu một cách khái quát, KCHT là một bộ phận đặc thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục.” Theo nghĩa rộng, KCHT cũng được hiểu là tổng thể các cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế - xã hội được diễn ra một cách bình thường.” KCHT có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, phân loại theo lĩnh vực kinh tế - “xã hội được sử dụng rộng rãi nhất và được phân chia thành: KCHT kinh tế (hay còn gọi là KCHT kỹ thuật) và KCHT xã hội.” KCHT kinh tế là một bộ phận quan trọng trong hệ thống kinh tế và đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, nhanh và bền vững.
KCHT kinh tế bao gồm các công trình: Giao thông vận tải, năng lượng, viễn thông, thủy lợi,.” KCHT xã hội là các công trình, cơ sở, thiết bị thiết yếu phục vụ, nâng cao mức sống của cộng đồng dân cư, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực. KCHT xã hội bao gồm các công trình, cơ sở, thiết bị phục vụ cho các lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học, hoạt động văn hóa, xã hội và thể dục thể thao,. Nhìn chung, có thể hiểu một cách khái quát, KCHT là một bộ phận đặc thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục. Kết cấu hạ tầng giao thông vận tải (KCHTGTVT) “Mạng lưới GTVT bao gồm: hệ thống đường bộ, hệ thống đường thủy, hệ thống đường hàng không, bao gồm các công trình như đường các loại, cầu cống, nhà ga, bến xe, bến cảng và các công trình kỹ thuật khác,…” HVTH: Phạm Văn Dũng Luận văn thạc sỹ 9 GVHD: TS.Đinh Công Tịnh Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung chủ yếu vào hệ thống GTVT đường bộ.
Luật Giao thông đường bộ quy định: Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ (KCHTGTĐB) bao gồm công trình đường bộ, cầu đường bộ, hầm đường bộ,.Trong đó, công trình đường bộ gồm đường bộ, nơi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ; đèn tín hiệu; biển báo hiệu; vạch kẻ đường; cọc tiêu; rào chắn; đảo giao thông; dải phân cách; cột cây số; tường, kè; hệ thống thoát nước; trạm kiểm tra tải trọng xe; trạm thu phí và các công trình, thiết bị phụ trợ đường bộ khác [3].” Về mạng lưới giao thông đường bộ hiện nay được chia thành 06 hệ thống là: Quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị và đường chuyên dùng.” Tóm lại, có thể hiểu Kết cấu hạ tầng giao thông (KCHTGT) vận tải là hệ thống các công trình đường xá, bến xe, bãi đỗ, trạm dừng và các công trình phụ trợ,… phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ nhằm đảm bảo cho các hoạt động di chuyển; vận chuyển hàng hóa, dịch vụ, hành khách,… của các loại phương tiện tham gia giao thông diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi và an toàn. Vận hành Theo Từ điển tiếng Việt: “vận hành là hoạt động khiến mỗi bộ phận thực hiện chức năng của mình và phối hợp với mọi bộ phận khác”. Có thể hiểu vận hành trong tổ chức là các hoạt động đảm bảo rằng các hiệu quả trong việc sử dụng ít tài nguyên cần thiết, đáp ứng các yêu cầu của tổ chức. Thực hiện vận hành chủ yếu liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức và giám sát trong bối cảnh hoạt động của toàn bộ hệ thống; đòi hỏi khả năng phân tích tình hình hiện tại và tìm giải pháp tốt hơn để cải thiện hiệu lực và hiệu quả của hoạt động sản xuất hoặc dịch vụ của tổ chức đó.
HVTH: Phạm Văn Dũng Luận văn thạc sỹ 10 GVHD: TS.Đinh Công Tịnh “1. Vận hành KCHTGTVT” Từ khái niệm vận hành, khái niệm KCHTGTVT, có thể hiểu vận hành KCHTGTVT là quá trình sử dụng các nguồn lực cần thiết để tiến hành thiết lập, tổ chức xây dựng và phát triển hệ thống những công trình đường bộ nhằm đảm bảo nhu cầu di chuyển, vận tải hàng hoá của các phương tiện được diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi và an toàn, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong tương lai. NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI LIÊN QUAN Các công trình nghiên cứu ngoài nước có liên quan đến vận hành hạ tầng giao thông tập trung 2 nhóm vấn đề sau đây: 1. Về vai trò, tiêu chí đánh giá và nội dung vận hành hệ thống giao thông (VHHTGT) “Đã có nhiều nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài liên quan đến vấn đề vai trò của nhà nước đối với sự phát triển đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật như: Nghiên cứu của Golovko Vladimir Vladimirovich (2009), thành viên Viện Hàn lâm khoa học Liên Bang Nga, “Hoạt động hành chính pháp lý của cơ quan quản lý đường bộ” [4].
Nghiên cứu của Mikheyev Tatiana (2007), thành viên Viện Hàn lâm khoa học liên bang Nga (Khoa học tự nhiên), “Tổng hợp cấu trúc tham số của hệ thống điều khiển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ” [5]. Nghiên cứu của Adil Aybek Nasirovich (2011), thành viên Viện Hàn lâm khoa học Liên Bang Nga, “Về mặt lý thuyết, khuôn khổ pháp lý và thể chế cải thiện Cảnh sát trật tự công cộng tại Cộng hòa Kyrgyzstan” [6]. Mặc dù cách tiếp cận và lập luận có khác nhau, nhưng nhìn chung, các nghiên cứu đều xác định: CSHTKT là loại hàng hóa công cộng; thừa nhận vai trò của Nhà HVTH: Phạm Văn Dũng Luận văn thạc sỹ 11 GVHD: TS.Đinh Công Tịnh nước rất quan trọng, là không thể thiếu trong việc phát triển đầu tư CSHTKT, phát triển KT-XH của một quốc gia. Về nguyên tắc, quy trình và kinh nghiệm về VHHTGT “Nghiên cứu về “Modular - Mô hình xây dựng mới trong xu hướng phát triển đô thị xanh và bền vững” của Kim Sang Soo Giám đốc Văn phòng đại diện POSCO A&C Hà Nội (2013), Tác giả đã đưa ra lợi ích về phát triển đô thị xanh, đô thị thân thiện với môi trường với điểm nổi bật có nhiều không gian xanh, chất lượng môi trường xanh, hài hòa các hệ sinh thái nhân tạo (hệ sinh thái đô thị) và hệ sinh thái tự nhiên, tạo ra môi trường sống tốt, bảo đảm sức khỏe và tiện nghi cho người dân.
Theo nghiên cứu thực tế tại Hàn Quốc, phương pháp này sẽ rút ngắn thời gian thi công 50%, sau khi tháo dỡ vật liệu được tái chế sử dụng cho công trình khác là 80%, giảm thiểu 25% chi phí xây lắp so với các phương pháp thông thường. Mô hình Modular phù hợp để xây dựng các công trình công cộng như nhà ở cho cán bộ công nhân viên, nhà ở xã hội, ký túc xá sinh viên, phòng khám/mổ di động, trường học,…[7].” Ngoài ra, có những nghiên cứu chia sẻ kinh nghiệm phát triển CSHTKT của Hàn Quốc khác như: Beom Jung Kim, Hyong Mo Jeon và Nguyễn Văn Vịnh (2011), “Phát triển cảng biển hiện đại tại Việt Nam: Chia sẻ kinh nghiệm của Hàn Quốc”; Yeong Heok Lee (2011), “Phát triển cảng hàng không hiện đại ở Việt Nam: Chia sẻ kinh nghiệm của Hàn Quốc” [8], [9].”bm Bernald Myers, Thomas Laursen. Public investment management in the new EU member states: strengthening planning andimplementation of transport infrastructure investments. World Bank, working paper no.
Mục đích chính của nghiên cứu này gồm hai phần: i) xác định các nguy cơ và thách thức chính mà các Quốc gia Thành viên Mới (NMS) đang phải đối mặt; và ii) xác định các ví dụ thực hành tốt và những thách thức dai dẳng mà các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU) phải đối mặt, có lịch sử phát triển lâu đời hơn theo thể chế dân chủ quản lý HVTH: Phạm Văn Dũng Luận văn thạc sỹ 12 GVHD: TS.Đinh Công Tịnh công. Do cần thiết, nghiên cứu này bị giới hạn về số lượng các trường hợp quốc gia và độ sâu của các vấn đề khác nhau được giải quyết. Bốn NMS đã được lựa chọn - Ba Lan, Slovenia, Latvia và Slovakia dựa trên sự đồng ý sẵn sàng tham gia. Ba quốc gia là Anh, Ireland, và Tây Ban Nha (được lựa chọn dựa trên lãi suất Ngân hàng và sự sẵn có của các chuyên gia tư vấn).