Chương 1. Giới thiệu Bao gồm những nội dung: Tính cấp thiết của đề tài; Mục tiêu nghiên cứu – câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài; Bố cục của nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Bao gồm những nội dung: Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, các nghiên cứu trước đây về quản trị rủi ro tín dụng. Trên cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng và các nghiên cứu trước, đề tài đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu Bao gồm những nội dung: Quy trình nghiên cứu, phương pháp sử dụng nghiên cứu định tính và định lượng, đo lường các thang đo trong mô hình nghiên cứu và mẫu nghiên cứu chính thức. Kết quả nghiên cứu Bao gồm nội dung như giới thiệu mẫu nghiên cứu, kết quả kiểm định: Cronbach’s alpha, EFA, kết quả hồi quy và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Bao gồm những nội dung: Tóm tắt lại kết quả nghiên cứu; Đề xuất hàm ý quản trị; Nêu lên những hạn chế của nghiên cứu và đưa ra hướng nghiên cứu mới cho những nghiên cứu tiếp theo. -5- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Quản trị rủi ro tín dụng 2. Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là vấn đề đặc biệt được quan tâm không chỉ ở phạm vi các ngân hàng mà còn trong toàn nền kinh tế. Theo quan niệm của ủy ban Basel thì “Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận”. Theo khái niệm này thì rủi ro tín dụng có phạm vi khá rộng, không chỉ trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng mà trong cả các hoạt động khác như đầu tư, phái sinh mà ngân hàng thực hiện.
Tuy nhiên, như đã giới thiệu trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận án chỉ nghiên cứu rủi ro tín dụng trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng, vì vậy rủi ro tín dụng có thể hiểu đơn giản là sự vi phạm không hoàn trả nợ từ phía khách hàng vay. Còn theo cách hiểu tại các ngân hàng Việt Nam thì “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” (quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005). Như vậy, từ nhiều định nghĩa khác nhau, đa dạng, có thể tóm lược nội dung về rủi ro tín dụng như sau: Rủi ro tín dụng là rủi ro do bên được cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Quản trị rủi ro tín dụng Ngân hàng cung cấp tín dụng nhằm tìm kiếm lợi nhuận cho mình.
Nhưng rủi ro của việc cấp tín dụng này là việc khách hàng không trả được vốn gốc và lãi cho ngân hàng. Vấn đề đặt ra là các ngân hàng cần quản trị rủi ro tín dụng để hạn chế tối đa thiệt hại, đồng thời tối đa lợi nhuận và giá trị của cổ đông (Nguyễn Minh Kiều, 2009). Theo Hennie Van Greuning và Sonja Brajovic Bratanonic (2009), quản trị rủi ro tín dụng là vấn đề cốt lõi trong sự tồn tại của phần lớn các ngân hàng lớn. Rủi ro tín dụng có thể giảm đi bằng việc ban hành hệ thống các chính sách giới hạn tín dụng cho các bên vay mượn và nguy cơ đổ vỡ đến các bên liên quan.
Việc phân loại -6- danh mục tín dụng và dự phòng rủi ro cho các khoản tín dụng sẽ ngăn ngừa khả năng giảm giá trị của danh mục cho vay. Trong quản trị tín dụng, NH phải có thông tin minh bạch của KH, rủi ro của các sản phẩm tín dụng mà NH cung cấp, kỳ hạn của các sản phẩm tín dụng có ảnh hưởng đến quản trị rủi ro thanh khoản của NH hay không. Và năng lực quản trị rủi ro tín dụng của NH có tác động đáng kể đến chất lượng của nguyên tắc quản trị rủi ro. Theo Principles for Management of Credit Risk (2000) (tạm dịch: “Các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng”) - của Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng cho rằng, mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng là tối đa hoá lợi suất rủi ro hiệu chỉnh của ngân hàng bằng việc duy trì mức độ rủi ro ở một tỷ lệ chấp nhận được.
Các NH cần quản trị rủi ro tín dụng cho toàn bộ danh mục cũng như rủi ro cho từng khoản vay hoặc các giao dịch khác. Các NH cũng cần xem xét mỗi quan hệ giữa rủi ro tín dụng với các loại rủi ro khác. Hiệu quả của công tác quản trị rủi ro tín dụng là nhân tố quan trọng trong quản trị rủi ro và là cần thiết cho sự thành công trong dài hạn của NH. Theo định nghĩa về quản trị rủi ro thì “Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện, và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro” (Trần Huy Hoàng, 2011).
Như vậy, để hiểu một cách cụ thể hơn thì hoạt động quản trị rủi ro tín dụng được định hình như sau: “Quản trị rủi ro tín dụng chính là việc xây dựng hệ thống quản lý và các chính sách quản trị rủi ro thích hợp đối với hoạt động tín dụng nhằm tuân thủ các quy định của pháp luật, nhận diện, cảnh báo và đề ra các biện pháp hạn chế sự xuất hiện của rủi ro tín dụng, giảm thiểu những thiệt hại khi chúng phát sinh, đồng thời xác định sự tương quan hợp lý giữa các nguồn lực của ngân hàng với mức độ mạo hiểm có thể khi sử dụng vốn ngân hàng cho nghiệp vụ cấp tín dụng” Đối với ngân hàng, quản trị rủi ro tín dụng tốt không những đảm bảo tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng được an toàn, lợi nhuận kinh doanh, nâng cao uy tín và chất lượng dịch vụ của chính ngân hàng. Vì khi xảy ra rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được lãi và vốn gốc, trong khi ngân hàng đã cam kết thanh -7- toán lãi và vốn huy động đúng hạn. Sự mất cấn đối thu chi này sẽ dẫn đến việc ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản, ảnh hưởng đến uy tín của NH với KH. Tình hình sẽ trở nên cực kỳ xấu khi cả hệ thống ngân gặp phải rủi ro tín dụng hay phá sản do hoạt động ngân hàng liên quan đến nhiều cá nhân, tổ chức và nhiều ngành nghề lĩnh vực trong xã hội.
Khi đó, tình trạng ồ ạt rút tiền hàng loạt diễn ra. Ngân hàng phá sản ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội. Doanh nghiệp không có vốn sản xuất kinh doanh, tiền trả lương nhân công, … dẫn đến thu lỗ, phá sản DN, thất nghiệp, … Chính vì vậy, quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng đảm bảo sự ổn định và phát triển của cả nền kinh tế, nhất là những quốc gia phụ thuộc vốn vào hệ thống ngân hàng như Việt Nam. Đo lường rủi ro tín dụng Theo khái niệm cơ bản nhất, rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả hoặc không trả đầy đủ, hoặc không đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng.
Có nhiều tiêu chí phản ánh RRTD của NHTM: - Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ - Tỷ lệ nợ xấu trên tổng vốn chủ sở hữu - Nợ có vấn đề, cần cảnh báo sớm RRTD là khả năng không trả được nợ của khách hàng nên các Ngân hàng cần phát hiện sớm các khoản vay có vấn đề, thuộc cảnh báo sớm. Khách hàng phá sản, lừa đảo, chây ỳ trong trả nợ vay là biểu hiện rõ nhất; bên cạnh đó các khoản nợ không trả được khi đến hạn ở các cấp độ khác nhau cũng thể hiện các khả năng vỡ nợ khác nhau. Nhiều ngân hàng cho rằng nếu một khoản nợ đến hạn không trả được, thì các khoản nợ khác của cùng một chủ thể chưa đến hạn cũng được coi là có rủi ro tiềm ẩn. Trường hợp dù nợ chưa đến hạn hoặc đến hạn vẫn trả được nhưng tình hình tài chính yếu kém, môi trường kinh doanh có biến động không thuận lợi cho khách hàng thì khoản nợ đó cũng được coi là có rủi ro tín dụng.
Những thước đo RRTD cho thấy rủi ro tín dụng ở độ rộng đối với nhiều mức độ khác nhau. Điều này cho thấy, RRTD không chỉ thể hiện ở con số nợ xấu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ, mà nợ xấu được định lượng ở độ rộng hay -8- hẹp. Trong đề tài này, RRTD được đo lường thông qua chất lượng các khoản vay biểu hiện bằng trạng thái nhóm nợ của khách hàng. Theo Quyết định 493/2005/QĐ- NHNN ngày 22/04/2005, Quyết định 18/2007/QĐ- NHNN ngày 25/04/2007, Thông tư 02/2013 /TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc NHNN thì các khoản vay của các NHTM sẽ được chia thành 05 nhóm: Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn; Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá và là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn; Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 1; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 1.
- Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu; Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 2; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 2; Nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn (nhóm 2) ở một số trường hợp.