Chương 1 giới thiệu xoay quanh những vấn đề cần nghiên cứu. Chương này vẽ nên một bức tranh tổng thể từ tính cấp thiết của đề tài, tình hình nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu của đề tài cho đến đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NHTM 2. Hiệu quả kinh doanh của NHTM 2.
Khái niệm hiệu quả kinh doanh của NHTM Hiệu quả hoạt động SXKD là biểu hiện mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nguyên vật liệu, thiết bị máy móc, lao động và vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận. “Nguồn: Ngô Đình Giao, 1997. Giáo trình quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp” Hiệu quả kinh doanh ngân hàng là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đã có để đạt được kết quả cao nhất với tổng chi phí thấp nhất. Hiệu quả kinh doanh NHTM được đo lường tổng quát thông qua tỷ lệ giữa lợi nhuận đối với tổng tài sản (ROA) và vốn chủ sở hữu (ROE).
Lợi nhuận phản ánh khả năng sinh lời của NHTM, nó được quyết định bởi tiền lãi thu được từ hoạt động tín dụng và đầu tư, nguồn thu từ hoạt động cung ứng các dịch vụ, bởi quy mô, chất lượng và thành phần của các tài sản có. Hiệu quả kinh doanh ngân hàng có vai trò quyết định trực tiếp đến sự tồn tại và uy tín của ngân hàng. Nếu NHTM hoạt động kinh doanh hiệu quả thì uy tín của ngân hàng đó sẽ được tăng lên, người gửi tiền sẽ an tâm gửi và ngân hàng sẽ thu hút được nhiều người gửi tiền cũng như các khách hàng sử dụng các dịch vụ của ngân hàng. Trên cơ sở nguồn vốn huy động tăng, ngân hàng sẽ có khả năng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, tạo ra lợi nhuận ngày càng nhiều, tích lũy được nhiều và có điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ để thu hút khách hàng và tạo ra hiệu quả ngày càng gia tăng.
Chính vì vậy, các NHTM xem hiệu quả kinh doanh là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong hoạt động kinh doanh. Phân tích hiệu quả kinh doanh thông qua các chỉ số phải được xem xét qua nhiều giai đoạn khác nhau. Có như vậy, ta mới có thể đánh giá được xu hướng phát triển, quy luật vận động. Ngoài ra, ta còn phải dựa vào thực tiễn hoạt động của chính ngân hàng, đi sâu vào từng bộ phận cấu thành chỉ tiêu, từ đó dễ dàng xác định được nguyên nhân, dễ dàng tìm ra giải pháp thích hợp.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh ngân hàng Theo Peter S. Rose (2004), về mặt lý thuyết, giá trị thị trường (hay thị giá) của cổ phiếu là chỉ số tốt nhất phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh của công ty bởi vì nó thể hiện sự đánh giá của thị trường đối với công ty đó. Tuy nhiên chỉ số này thường không đáng tin cậy trong lĩnh vực ngân hàng. Lý do ở đây là hầu hết cổ phiếu ngân hàng, đặc biệt là cổ phiếu của các ngân hàng nhỏ không được giao dịch tích cực trên thị trường quốc tế cũng như thị trường trong nước.
Thực tế này buộc các nhà phân tích tài chính phải sử dụng các tỷ lệ về khả năng sinh lời để thay thế cho chỉ số giá trị thị trường. Hiệu suất hoạt động của ngân hàng được thể hiện thông qua các chỉ tiêu: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế ROA= 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Tỷ lệ này phản ánh hiệu quả kinh doanh trên một đơn vị tài sản có của ngân hàng, là thước đo hiệu quả đầu tư của ngân hàng. Chỉ tiêu ROA giúp nhà quản trị thấy được khả năng bao quát của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập từ tài sản có. ROA cao phản ánh kết quả của hoạt động hữu hiệu, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các khoản mục trên tài sản có trước những biến động của nền kinh tế.
Ngược lại, nếu ROA thấp có thể là kết quả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 của một chính sách đầu tư hay cho vay không năng động hoặc có thể do chi phí hoạt động của ngân hàng cao. Các nhà đầu tư cũng nên chú ý tới tỷ lệ lãi suất mà ngân hàng phải trả cho các khoản vay nợ. Nếu một ngân hàng không kiếm được nhiều hơn số tiền mà họ đã chi cho các hoạt động đầu tư, đó không phải là một dấu hiệu tốt. Ngược lại, nếu ROA cao, chi phí huy động vốn thấp thì có nghĩa là ngân hàng đang bỏ túi một món hời.
Để tăng ROA, các ngân hàng phải tìm cách gia tăng các khoản mục tài sản có sinh lời. Trong các khoản mục tài sản có sinh lời, cho vay là khoản đem lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận mà ngân hàng gia tăng khoản đầu tư tín dụng (khoản chứa đựng nhiều rủi ro). Như vậy, ROA càng cao thể hiện mức độ rủi ro càng cao mang lại từ tổng tài sản có.
* Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế ROE= 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 Chỉ tiêu này đo lường hiệu quả sử dụng một đồng vốn chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn của ngân hàng và các quỹ dự trữ, qua đó tỷ lệ này cho biết khả năng sử dụng vốn cổ phần của ngân hàng nên ROE có ý nghĩa quan trọng đối với cổ đông. ROE càng lớn cho thấy kết quả hoạt động trên vốn cổ phần của ngân hàng càng tốt. Trong đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, các nhà quản trị ngân hàng còn xem xét mối quan hệ giữa ROA và ROE, 2 chỉ tiêu này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑟ò𝑛𝑔 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑟ò𝑛𝑔 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó ROE= = x =ROA x 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Mối quan hệ này cho thấy ROE rất dễ biến động khi ngân hàng thay đổi chính sách nợ.
Điều này cho thấy một ngân hàng có thể có ROA thấp nhưng ROE vẫn có thể khá cao do ngân hàng đẩy mạnh tăng nguồn vốn huy động. Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ ngân hàng sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là ngân hàng đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn. Khi tính toán được tỷ lệ này, các nhà đầu tư có thể đánh giá ở các góc độ cụ thể như sau: + ROE nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất huy động của ngân hàng, vậy nếu ngân hàng có khoản vay nợ tương đương hoặc cao hơn vốn cổ đông, thì lợi nhuận tạo ra cũng chỉ để trả lãi.
+ ROE cao hơn lãi suất huy động của ngân hàng thì phải đánh giá xem ngân hàng đã vay nợ và khai thác hết lợi thế cạnh tranh trên thị trường chưa để có thể đánh giá ngân hàng này có thể tăng tỷ lệ ROE trong tương lai hay không. * Tỷ lệ lãi thu nhập lãi cận biên (NIM) 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖−𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑙ã𝑖 NIM= 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó sinh 𝑙ã𝑖 NIM là chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi trên tài sản sinh lãi. Hệ số này được các nhà quản trị ngân hàng theo dõi vì nó giúp cho ngân hàng dự báo trước khả năng sinh lãi của ngân hàng thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và việc tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Trong các nghiên cứu trước đây, kể cả trong và ngoài nước, các tỷ số trên cũng đã được sử dụng như các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, chủ yếu là sử dụng tỷ số ROA và ROE.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng 2. Nhóm nhân tố bên ngoài 2. Môi trường về kinh tế, chính trị và xã hội trong và ngoài nước NHTM là một tổ chức trung gian tài chính làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư trong nền kinh tế, do vậy những biến động của môi trường kinh tế, chính trị và xã hội có những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các ngân hàng.
Nếu môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các NHTM, vì đây cũng là điều kiện làm cho quá trình sản xuất của nền kinh tế được diễn ra bình thường, đảm bảo khả năng hấp thụ vốn và hoàn trả vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Khi nền kinh tế có tăng trưởng cao và ổn định, các khu vực trong nền kinh tế đều có nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh do đó nhu cầu vay vốn tăng làm cho các NHTM dễ dàng mở rộng hoạt động tín dụng của mình đồng thời khả năng nợ xấu có thể giảm vì năng lực tài chính của các doanh nghiệp cũng được nâng cao. Ngược lại, khi môi trường kinh tế, chính trị và xã hội trở nên bất ổn thì lại là những nhân tố bất lợi cho hoạt động của các NHTM như nhu cầu vay vốn giảm, nguy cơ nợ quá hạn, nợ xấu gia tăng làm giảm hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Hơn nữa, hiện nay quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới.
Các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, luồng vốn quốc tế đã và đang dồn vào khu vực Châu Á mạnh mẽ, điều này đang tạo ra nhiều cơ hội cho Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng nhiều cơ hội mới như có thể tranh thủ được các nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý từ các nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh đó ngành ngân hàng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức từ quá trình hội nhập, như phải cạnh tranh với những tập đoàn tài chính đầy tiềm lực (về vốn, công nghệ, năng lực quản lý.