CHƯƠNG 1 KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. 1 Cơ sở lý thuyết về cung tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về cung tín dụng Cơ sở hình thành và phát triển của quan hệ tín dụng chính là sự tin tưởng và nhu cầu về vốn trong nền kinh tế hàng hoá. Từ cơ sở hình thành đó ta có thể đưa ra một khái niệm chung về quan hệ tín dụng như sau : Theo Trần Huy Hoàng và cộng sự (2009), tín dụng là một hình thức sử dụng vốn của ngân hàng thông qua việc chuyển giao vốn tín dụng cho khách hàng dưới hình thức bằng tiền hoặc tài sản mà khách hàng cam kết hoàn trả nợ và lãi đúng hạn. Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), tín dụng Ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ Ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoảng chi phí nhất định.
Tín dụng là nghiệp vụ quan trọng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho ngân hàng. Tín dụng của NHTM đáp ứng nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, hoạt động của ngân hàng thâm nhập vào mọi lĩnh vực ngành nghề, nên đòi hỏi các sản phẩm tín dụng ngày càng phong phú và đa dạng đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của khách hàng. Tại Việt Nam hiện nay hoạt động tín dụng của ngân hàng chủ yếu là cho vay (Trần Huy Hoàng và cộng sự, 2012). Từ các khái niệm trên ta có thể thấy tín dụng không phải là quan hệ mua bán , chỉ xảy ra trong thời gian nhất định và phải được xác định trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau.
Nói chung đứng trên mỗi góc độ khác nhau người ta sẽ có cách hiểu khác nhau về tín dụng. Chính vì thế mà theo Luật các tổ chức tín dụng của Việt nam (2010) đã đưa ra định nghĩa về hoạt động tín dụng như sau: “ Hoạt động tín dụng là việc tổ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 chức tín dụng sử dụng vốn tự có, vốn huy động để cấp tín dụng ”. Trong đó cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác. Dù đứng trên quan điểm như thế nào chăng nữa thì bản chất hoạt động tín dụng không hề thay đổi: Trong quan hệ tín dụng người cho vay chỉ nhường quyền sử dụng vốn cho người đi vay trong một thời gian nhất định chứ không nhường quyền sở hữu và người đi vay phải hoàn trả lại cho người cho vay khi đến hạn đã thoả thuận.
Sự hoàn trả này không chỉ là sự bảo tồn về mặt giá trị mà còn được tăng thêm dưới hình thức lãi suất.2 Tác động của cung tín dụng đến các hoạt động kinh tế 1.1 Sự cần thiết của tín dụng trong nền kinh tế thị trường Khi nền kinh tế sản xuất hàng hoá ra đời thì quan hệ tín dụng cũng được hình thành và phát triển. Nền kinh tế càng phát triển bao nhiêu thì kéo theo thị trường tài chính tiền tệ cũng phát triển một cách thích ứng. Trong nền kinh tế thị trường tiền tệ là một phạm trù kinh tế, mọi quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hoá là yếu tố cần thiết của quá trình sản suất. Trong nền kinh tế hàng hoá tiền tệ tham gia vào quá trình tuần hoàn vốn.
Trong quá trình đó phát sinh tình trạng tạm thời nhàn rỗi và tạm thời thiếu vốn ở các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế. Vậy tại sao quan hệ tín dụng lại cần thiết trong nền kinh tế thị trường, điều này được lý giải ở trên những khía cạnh sau: Trong nền kinh tế thị trường mỗi doanh nghiệp đều muốn được thể hiện và khẳng định mình trên thương trường. Muốn thắng được đối thủ cạnh tranh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải có được ba yếu tố đó là: vốn; lao động; khoa học công nghệ, trong đó có thể nói vốn là yếu tố nền tảng hình thành nên hai yếu tố còn lại. Nếu có vốn thì mỗi doanh nghiệp sẽ mua được máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng v.
Đồng thời họ cũng thuê được lao động , đào tạo được đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn ngày càng cao hơn. Nhưng rõ ràng là với số vốn tự có của mình thì LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 bản thân mỗi doanh nghiệp sẽ không thể đảm bảo được tất cả các mối quan hệ kinh tế, chính vì thế mà trong nguồn vốn của doanh nghiệp luôn tồn tại hai nguồn chính đó là nợ và vốn chủ sở hữu. Do đó quan hệ tín dụng được hình thành một cách khách quan trong chính nhu cầu của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường, chỉ có quan hệ tín dụng ra đời mới đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế nói chung, các doanh nghiệp nói riêng. Ngân hàng sẽ là tổ chức tài chính trung gian cung cấp nghiệp vụ đó, đồng thời là người điều hoà vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu góp phần làm ổn định và phát triển nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường ở bất kỳ thời điểm nào cũng xuất hiện tượng: “ Tạm thời thừa vốn” và “ Tạm thời thiếu vốn “ Tạm thời thừa vốn: Thừa ở đây với nghĩa là tổ chức, đơn vị đó có một lượng vốn nhàn rỗi trong một thời gian nhất định. Điều này được thể hiện cụ thể trong từng chủ thể của nền kinh tế. - Chính phủ: Trong nền kinh tế quốc dân việc thu chi xảy ra không đồng thời, thông thường các khoản thu nhập thì tập trung theo định kỳ còn các khoản chi thì được phân bổ dần dần nên trong một khoảng thời gian nhất định sẽ xuất hiện số tiền nhàn rỗi từ Ngân sách nhà nước - Các doanh nghiệp: nguồn thu của các doanh nghiệp và nguồn chi của các doanh nghiệp có sự không thống nhất về mặt thời gian vì những lý do: hàng hoá sản xuất ra đã tiêu thụ được; lương của các công nhân chưa đến hạn trả; tiền chưa phải trả do mua chịu hàng hoá; dự trữ của doanh nghiệp;chưa phải thực hiện nghĩa vụ tài chính và trả lãi suất Ngân hàng; các quỹ chưa được sử dụng; lợi nhuận của doanh nghiệp. Điều này dẫn đến các doanh nghiệp luôn có một lượng vốn nhàn rỗi trong một thời gian nhất định.
- Cá nhân người tiêu dùng: Trong hoạt động sản suất kinh doanh, các cá nhân trong xã hội sẽ nhận được phần thu nhập của mình dưới các hình thức: tiền lương, tiền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 thưởng, phụ cấp, lợi nhuận thu được. Một phần của các phần thu nhập này không chỉ tiêu dùng ngay mà còn để dành tiêu dùng trong tương lai. Phần tiền để dành này hình thành lượng vốn tiền tệ nhàn rỗi rất lớn trong nền kinh tế. - Nguồn vốn nhàn rỗi từ nước ngoài: Mỗi quốc gia vì lí do như là muốn tham gia vào các tổ chức quốc tế hay là để đảm bảo an toàn cho nền kinh tế cũng như ổn định đồng tiền trong nước họ thường giữ một khoản tiền tại các ngân hàng ở nước ngoài để giao dịch hay một định chế tài chính quốc tế hoặc có một lượng vốn dồi dào mà không đem đầu tư tiếp.
Thương mại quốc tế ngày càng mở rộng dẫn đến mỗi quốc gia đều có một tài khoản của mình ở nước ngoài để giao dịch. Chính những lí do đó đã tạo nên một lượng vốn nhàn rỗi không nhỏ có thể sử dụng trong một thời gian nhất định. Tạm thời thiếu vốn: Thiếu vốn ở đây với nghĩa là tổ chức đơn vị đó thiếu lượng tiền mặt tạm thời để trang trải cho những hoạt động kinh tế trước mắt đòi hỏi phải chi tiền mặt. Và điều này được thể hiện cụ thể trong từng chủ thể của nền kinh tế.
- Chính phủ: đóng vai trò là một chủ thể lớn điều hành thúc đẩy sự phát triển của một đất nước, Chính phủ thường đầu tư vào các dự án lớn như cơ sở hạ tầng, các công trình mang tính sống còn đối với lợi ích của quốc gia mà tư nhân không có đủ khả năng và điều kiện thực hiện. Nguồn vốn đầu tư chính phủ lấy từ Ngân sách nhà nước (NSNN), nhưng đôi khi NSNN không đủ vì chưa đến hạn thu thuế dẫn đến sự thiếu vốn đấu tư nên Chính phủ phải đi vay. - Các doanh nghiệp: như ta đã biết các doanh nghiệp khác nhau về điều kiện sản xuất kinh doanh dẫn đến tuần hoàn luôn chuyển vốn khác nhau. Đồng thời mỗi doanh nghiệp lại là một thực thể sở hữu khác nhau cho nên luôn tồn tại hai nhóm doanh nghiệp này thừa vốn thì doanh nghiệp khác thiếu vốn vì chưa bán được hàng, chưa thu được tiền nhưng đã đến thời hạn phải thanh toán các khoản nợ, phải trả lương.
Dẫn đến các doanh nghiệp có nhu cầu được vay vốn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Cá nhân: người tiêu dùng đôi khi có những khoản phải chi bất thường hoặc những khoản chi tiêu ngoài khả năng tài chính tạm thời của họ nhưng họ có khả năng bù đắp những thiếu hụt đó trong tương lai. Điều này dẫn đến nhu cầu vay tiêu dùng của cá nhân. Từ sự phân tích ở trên ta thấy trong nền kinh tế luôn tồn tại hai nhu cầu cho vay và đi vay.
Hai nhu cầu này có đặc điểm chung là đều nhằm thoả mãn nhu cầu hiện tại của các chủ thể kinh tế và nó xảy ra trong thời gian ngắn. Khác nhau ở cho vay và đi vay là quyền sở hữu, người cho vay vẫn có quyền sở hữu đối với khoản tiền cho vay còn người đi vay chỉ có quyền sử dụng đối với khoản tiền được vay trong khoảng thời gian thoả thuận giữa hai bên. Để giải quyết vấn đề “Tạm thời thừa vốn” và “Tạm thời thiếu vốn” thì quan hệ tín dụng ra đời và nó không thể thiếu trong nền kinh tế hiện đại.2 Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường Thứ nhất: tín dụng là điều kiện đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên liên tục. Trong một thời điểm trong nền kinh tế luôn tồn tại hai nhóm doanh nghiệp: Một nhóm “tạm thời thừa vốn” và muốn sử dụng số vốn nhàn rỗi này để kiếm lời trong một thời gian nhất định.
Một nhóm “tạm thời thiếu vốn” và muốn tìm kiếm nguồn vốn nhàn rỗi khác để đáp ứng nhu cầu hiện tại.