Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài và các vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Tóm tắt kết quả của những nghiên cứu trước đây. Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Nội dung và các kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận. 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Các bài nghiên cứu về cấu trúc vốn trên thế giới Nhân tố nào ảnh hưởng đến quyết định tài chính của công ty? Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp đã dành nhiều thời gian và nỗ lực mà nghiên cứu thông qua các phương tiện lý thuyết và thực nghiệm để xác định câu trả lời cho câu hỏi này. Câu hỏi này đặc biệt có ý nghĩa sau khi công bố các bài báo chuyên đề của Modigliani và Miller (1958, 1963). Tuy nhiên, vẫn chưa có lý thuyết thống nhất cho cơ cấu vốn sau nhiều thập kỷ nghiên cứu nghiêm túc, khiến cho chủ đề này còn cần nghiên cứu thêm.
Lựa chọn cơ cấu vốn cho các công ty là một trong những tiền đề cơ bản nhất của các khuôn khổ tài chính của một tổ chức doanh nghiệp. Bài nghiên cứu “What Determines Capital Structure of Listed Firms in India? “ của tác giả Joy Pathak năm 2010. Joy Pathak đã dùng số liệu của 135 công ty trong giai đoạn 1990-2009 được niêm yết trên thị trường chứng khoán Bombay và áp dụng nhiều giả thuyết để nghiên cứu về vấn đề này. Tác giả tìm thấy mối tương quan mạnh mẽ của 6 nhân tố tác động đến cấu trúc vốn bao gồm tài sản hữu hình, tăng trưởng, quy mô công ty, rủi ro kinh doanh, khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời.
Kết quả hầu như phù hợp với phần lớn các tài liệu trước đó. Trong đó tài sản hữu hình, tăng trưởng, quy mô công ty có quan hệ đồng biến với đòn bẩy tài chính, còn rủi ro kinh doanh, khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời có quan hệ nghịch biến với đòn bẩy tài chính. Kết thúc bài viết tác giả đề xuất về việc đưa thêm các nhân tố như tính độc đáo của sản phẩm, giá trị tài sản thế chấp, tỷ lệ khấu hao,…để phát triển mô hình mạnh hơn cho việc nghiên cứu nhân tố của cấu trúc vốn ở các nền kinh tế mới nổi. 5 Bài Nghiên cứu: “Capital Structure Decision: Which Factors are Reliably Important?” của Murray Z.Frank và Vidhan K.Frank và Vidhan K.Goyal đã xây dựng được một “mô hình cốt lõi của đòn bẩy tài chính” (core model of leverage) xem xét ảnh hưởng của các nhân tố đến cấu trúc vốn doanh nghiệp từ việc phân tích rất nhiều các nhân tố (25 nhân tố) đã được đề cập trong các nghiên cứu trước đây.
Mô hình đã chỉ ra 6 nhân tố chính ảnh hưởng đến lựa chọn cấu trúc vốn qua thời gian gồm: đòn bẩy trung bình của ngành, tỷ số giá trị thị trường/giá trị sổ sách tài sản, tỷ lệ tài sản cố định, lợi nhuận, quy mô công ty và lạm phát kỳ vọng. Nghiên cứu này xem xét tác động của bộ “các nhân tố cốt lõi” (core factors) đến cả đòn bẩy sổ sách lẫn đòn bẩy thị trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, các nhân tố ảnh hưởng đến đòn bẩy thị trường rõ ràng hơn là ảnh hưởng đến đòn bẩy sổ sách. Để kiểm tra yếu tố nào là tương quan với đòn bẩy, việc xác định đòn bẩy là một việc cần thiết.
Nhiều định nghĩa thực nghiệm về đòn bẩy khác nhau được sử dụng. Theo Myers (1977), những nhà quản lý tập trung vào đòn bẩy sổ sách bởi vì nợ có mối liên hệ với tài sản hơn là bằng cơ hội tăng trưởng. Đòn bẩy sổ sách cũng được ưa thích hơn bởi vì TTTC biến động nhiều và các nhà quản lý tin rằng chỉ số đòn bẩy thị trường là không đáng tin cậy để hướng dẫn chính sách tài chính cho DN. Các quan điểm quản lý cũng thống nhất với các nhận định học thuật này, theo Graham và Harvey (2001), nhiều nhà quản lý cho thấy rằng họ không tái cân bằng cấu trúc vốn của họ theo sự biến đổi của thị trường chứng khoán.
Chi phí hiệu chỉnh ngăn ngừa công ty khỏi việc tái cân bằng liên tục. Kết quả của nghiên cứu tập trung vào giải thích tác động của các nhân tố đến đòn bẩy thị trường. Tuy nhiên, để cung cấp nhiều cái nhìn khác nhau, nghiên cứu cũng trình bày kết quả đối với định nghĩa đòn bẩy sổ sách. Nghiên cứu đã tìm mô hình thích hợp giải thích được nhiều sự biến động trong đòn bẩy thị trường của các 6 công ty bằng cách sử dụng mẫu của hơn 226.355 công ty thương mại Mỹ từ 1950- 2003.
Với một đòn bẩy được định nghĩa trên cơ sở thị trường, nghiên cứu tìm thấy rằng bộ các nhân tố giải thích hơn 27% các biến động trong đòn bẩy, trong khi những yếu tố khác chỉ giải thích thêm 2%. Nghiên cứu gọi bộ 6 nhân tố này là “nhân tố cốt lõi” và mô hình bao gồm các yếu tố này là “mô hình cốt lõi của đòn bẩy”. Những nhân tố cốt lõi này có dấu thống nhất và có ý nghĩa thống kê qua nhiều cách xử lý dữ liệu khác nhau. Trong khi đó, những nhân tố còn lại gần như là không thống nhất.
Những nhân tố cốt lõi đối với đòn bẩy thị trường rút ra từ nghiên cứu là tỷ suất sinh lợi doanh nghiệp, đòn bẩy trung bình của ngành, tài sản cố định, quy mô công ty, tỷ lệ giá trị thị trường/ giá trị sổ sách của tài sản và lạm phát kỳ vọng. Bài nghiên cứu “Determines of Capital Structure in Developing countries “ của tác giả Tugbabas, Gulnur Muradoglu và Kate PhylaKtis năm 2009 Các tác giả thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của 27.826 công ty ở 25 quốc gia đang phát triển trên các khu vực như: Châu Phi, Đông Á Thái Bình Dương, Châu Mỹ Latin và Caribbean, khu vực Trung Đông và Bắc Phi và Nam Á ở các giai đoạn phát triển khác nhau đã đưa ra các kết quả sau: - Các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp lớn theo đuổi nguyên tắc phù hợp và trật tự phân hạng trong việc quyết định tài trợ nợ. Trong khi các công ty niêm yết thích tài trợ vốn cổ phần hơn tài trợ nợ dài hạn. - Các doanh nghiệp càng lớn, càng đa dạng hóa và ít rủi ro thường có đòn bẫy tài chính cao hơn so với các doanh nghiệp nhỏ.
Do đó, chính sách nợ của các doanh nghiệp này khác nhau. Do bất cân xứng thông tin, các doanh nghiệp nhỏ thường bị giới hạn khả năng tiếp cận nguồn tài trợ hơn so với các doanh nghiệp lớn. Vì vậy, các doanh nghiệp nhỏ thường phải đối mặt với mức lãi suất cao, điều này làm ảnh hưởng đến cơ hội phát triển của doanh nghiệp. - Môi trường kinh tế của các quốc gia cũng ảnh hưởng đến quyết định tài trợ nợ của các doanh nghiệp khác nhau.
Các doanh nghiệp lớn và niêm yết dễ dàng tiếp 7 cận thị trường tài chính trong nước và quốc tế, quyết định tài chính của các doanh nghiệp này không bị ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế của quốc gia nhiều như các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chẳng hạn, các doanh nghiệp lớn khi quyết định nguồn tài trợ nợ dài hạn không cần phải xem xét hết các nhân tố vĩ mô như các doanh nghiệp nhỏ. Bài nghiên cứu “Determinants of capital structure choice: a study of the Indian corporate sector“của tác giả Bhaduri, Saumitra năm 2002. Tác giả Bhaduri (2002) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn ở các doanh nghiệp Ấn Độ bằng cách xây dựng mô hình kinh tế giải thích khả năng tác động của chi phí tái cấu trúc nguồn vốn trong việc tạo được một cấu trúc vốn tối ưu.
Họ cũng cung cấp các bằng chứng thực nghiệm để chỉ ra rằng các nhân tố như tăng trưởng, dòng tiền, quy mô và đặc trưng sản phẩm/ngành tác động đến sự lựa chọn cấu trúc vốn tối ưu. Mẫu được sử dụng trong nghiên cứu của Bhaduri bao gồm 363 công ty được lựa chọn từ các ngành công nghiệp nặng trong thời kỳ 1990-1995 và cơ sở dữ liệu được lấy từ Trung tâm điều hành kinh tế Ấn Độ. Bài nghiên cứu này đã tìm ra được rằng việc lựa chọn cấu trúc vốn ở Ấn Độ chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như tăng trưởng, dòng tiền, quy mô và đặc trưng sản phẩm, đặc trưng ngành. Kết quả cũng xác nhận sự tồn tại của chí phí tái cấu trúc vốn trong việc tạo ra cấu trúc vốn tối ưu.
Mô hình cho thấy một chênh lệch về chi phí tái cấu trúc vốn giữa việc vay mượn dài hạn và ngắn hạn. Bhaduri thiết lập một mô hình chuẩn cho các nhà nghiên cứu khác sử dụng trong việc xác định các nhân tố của cấu trúc vốn. Bài nghiên cứu “The Determinants of Capital Structure: Evidence from China “ của tác giả Samuel G. Huang và Frank M.
Bài viết này sử dụng một cơ sở dữ liệu mới, bao gồm các số liệu kế toán được lấy từ thị trường niêm yết của hơn 1000 công ty ở Trung Quốc cho đến năm 2000 để có thể ghi các đặc điểm về cơ cấu nguồn vốn của các công ty. Cũng như ở 8 các nước khác, đòn bẩy ở các công ty Trung Quốc tăng theo quy mô doanh nghiệp, tấm chắn thuế phi nợ và tài sản cố định, giảm so với lợi nhuận và những tương quan ở các ngành công nghiệp. Hai ông cho thấy rằng cơ cấu vốn chủ sở hữu ảnh hưởng đến đòn bẩy. Tác giả cho thấy mối tương quan giữa đặc điểm và đòn bẩy của các công ty niêm yết dưới sự kiểm soát của nhà nước Trung Quốc là tương tự như những gì đã được tìm thấy ở các nước khác.
Nghiên cứu cho thấy rằng các công ty này đã đạt được lợi nhuận tối đa và là lực lượng kinh tế cơ bản trong các công ty ở Trung Quốc. So với các công ty ở các nền kinh tế khác, các công ty Trung Quốc niêm yết trên TTCK có đòn bẩy thấp hơn nhiều. Một trong những lý do có thể là thị trường trái phiếu ở Trung Quốc rất nhỏ và kém phát triển. Ngoài ra, việc phát hành trái phiếu và các khoản vay ngân hàng thậm chí không hấp dẫn cho các công ty Trung Quốc niêm yết trên TTCK.
Vì vậy, mong muốn thúc đẩy sự phát triển của thị trường trái phiếu để mở rộng các kênh tài chính của các công ty niêm yết. Các yếu tố ảnh hưởng đến đòn bẩy của các công ty ở Trung Quốc cũng giống như ở các nước khác.