CHƯƠNG 1: TỒNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VÀ CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH PHÒNG NGỪA RỦI RO TỶ GIÁ 1. Thị trường ngoại hối 1.1 Khái niệm thị trường ngoại hối Thị trường ngoại hối là nơi thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi các loại ngoại tệ và các hoạt động kinh doanh liên quan đến ngoại tệ 1.2 Thành phần tham gia giao dịch và cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối Cung ngoại tệ trên thị trường ngoại hối chính là tổng doanh số ngoại tệ cần bán trên thị trường ngoại hối. Cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối là tổng doanh số ngoại tệ cần mua trên thị trường ngoại hối. Dựa vào động lực thúc đẩy sự tham gia vào thị trường hay mục đích tham gia mua bán ngoại tệ, các thành phần tham gia giao dịch trên thị trường ngoại hối gồm các nhóm sau: - Nhà đầu tư và thương mại: nhóm này bao gồm các nhà xuất nhập khẩu và các nhà đầu tư ra nước ngoài - Ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư: nhóm này bao gồm tất cả các Ngân hàng thương mại và Ngân hàng đầu tư tham gia mua bán ngoại tệ cho chính họ khi thực hiện mục tiêu kinh doanh hay mua bán cho khách hàng khi thực hiện vai trò môi giới - Cá nhân hay hộ gia đình: nhóm này bao gồm những người có nhu cầu mua ngoại tệ khi đi công tác hay du lịch nước ngoài; hoặc có nhu cầu bán ngoại tệ khi nhận được các khoản ngoại tệ từ lợi tức đầu tư hay nhận chuyển tiền từ nước ngoài.
- Ngân hàng trung ương: Ngân hàng trung ương đóng vai trò tổ chức và kiểm soát, điều hành và tham gia mua bán ngoại tệ nhằm ổn định sự hoạt động của thị trường ngoại hối, ổn định giá cả và tỷ giá hối đoái.3 Tổ chức và hoạt động thị trường ngoại hối tại Việt Nam: Thị trường ngoại hối Việt Nam hình thành chính thức từ năm 1991 khi nền kinh tế Việt Nam bắt đầu chuyển sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN. Trải qua 16 năm đến nay thị trường ngoại hối Việt Nam đã có một bước phát triển đáng kể về quy mô và các nghiệp vụ giao dịch ngày càng đa dạng phong phú, thu hút được sự tham gia của các doanh nghiệp và ngân hàng thương mại trong và ngoài nước. Về tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại hối Việt Nam có thể mô tả như Hình 1.1 dưới đây Khách hàng Khách hàng A B Thị trường Techcombank BIDV Thị trường quốc tế quốc tế Khách hàng Khách hàng C D Hình 1.1: Tổ chức thị trường ngoại hối tại Việt Nam Hình 1.1 Cho thấy Ngân hàng thương mại đóng vai trò nòng cốt trên thị trường ngoại hối và đóng vai trò trung gian trong các giao dịch kinh doanh ngoại tệ nhằm đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của khách hàng là các doanh nghiệp, cá nhân. Ngoài ra, các Ngân hàng thương mại còn tham gia mua bán với nhau trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và tham gia mua bán ngoại tệ trên thị trường quốc tế nhằm mục tiêu lợi nhuận và đảm bảo cân bằng trạng thái ngoại tệ để giảm thiểu rủi ro tỷ giá.
Ngân hàng nhà nước Việt Nam thông qua Ngân hàng thương mại để tham gia vào thị trường ngoại hối nhằm thực hiện việc tổ chức và kiểm soát, điều hành và tham gia mua bán ngoại tệ nhằm ổn định sự hoạt động của thị trường ngoại hối, ổn định giá cả và tỷ giá hối đoái. Tính tất yếu khách quan của thị trường ngoại hối Với yêu cầu giao dịch ngày càng phát triển, thị trường ngoại hối ra đời một cách khách quan với các chức năng chính sau: Nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi ngoại tệ giữa các quốc gia trên thế giới thị trường ngoại hối đã hình thành và phát triển với mục đích là cầu nối cho các hoạt động kinh tế xã hội, quan trọng hơn cả là hoạt động ngoại thương. Thị trường ngoại hối là nơi đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi ngoại tệ nhằm bôi trơn cho các hoạt động xuất nhập khẩu và các hoạt động khác có liên quan đến ngoại tệ. Thị trường ngoại hối là phương tiện giúp cho các nhà đầu tư chuyển đổi ngoại tệ phục vụ cho đầu tư vào tài sản hữu hình hay tài sản tài chính ở nước ngoài.
Thị trường ngoại hối là công cụ của Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ nhằm điều khiển nền kinh tế theo mục tiêu của chính phủ. Tỷ giá hối đoái 1.1 Khái niệm Tỷ giá hối đoái của hai đồng tiền là giá cả của đồng tiền này tính bằng một số đơn vị đồng tiền kia. Các nước có nền kinh tế thị trường theo đuổi hệ thống tỷ giá linh hoạt theo đó tỷ giá được quyết định bởi sự tác động của cung và cầu ngoại tệ trên thị trường.2 Phân loại tỷ giá: Tỷ giá mua và tỷ giá bán: Tỷ giá mua là tỷ giá Ngân hàng áp dụng khi mua ngoại tệ từ khách hàng, tỷ giá bán là tỷ giá Ngân hàng áp dụng khi bán ngoại tệ cho khách hàng. Giữa hai tỷ giá này có một khoản chênh lệch để đảm bảo cho Ngân hàng có thể trang trải chi phí giao dịch và thu được lợi nhuận thỏa đáng.2008 Techcombank niêm yết tỷ giá mua USD là 16,150VND và tỷ giá bán USD 16,177VND Tỷ giá chéo: là tỷ giá giữa hai đồng tiền được tính toán thông qua một đồng tiền thứ ba.
Đồng tiền này thường là USD. Cách xác định tỷ giá chéo phụ thuộc vào cách niêm yết tỷ giá trực tiếp hay gián tiếp. 4 + Trường hợp 1: Tỷ giá chéo giữa hai đồng tiền yết giá trực tiếp. Ta có: Tỷ giá USD/VND = 16,150 và USD/JPY = 104.06 => Tỷ giá chéo JPY/VND = ( USD/VND)/( USD/JPY) = 16,150/104.20 + Trường hợp 2: Tỷ giá chéo giữa hai đồng tiền được yết giá gián tiếp.
Ta có: Tỷ giá EUR/USD = 1.9568 => Tỷ giá chéo EUR/GBP = (EUR/USD)/(GBP/USD) = 1.796 + Trường hợp 3: Tỷ giá chéo giữa một đồng tiền yết giá trực tiếp và một đồng tiền yết giá gián tiếp Ta có USD/VND = 16,150 và EUR/USD = 1.5576 => Tỷ giá chéo EUR/VND = (EUR/USD)x(USD/VND) = 16,150x1.3 Các yếu tố tác động đến tỷ giá: Tỷ giá trên thị trường ngoại hối chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau làm thay đổi cung cầu ngoại tệ, bao gồm các yếu tố sau: Tình hình thay đổi lãi suất nội tệ và ngoại tệ: nếu lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất ngoại tệ thì tài sản tài chính nội địa trở nên hấp dẫn các nhà đầu tư hơn tài sản tài chính nước ngoài. Điều này làm cho các nhà đầu tư phải tái cấu trúc lại danh mục đầu tư đưa đến hệ quả là dòng vốn chảy ra khỏi thị trường vốn nước ngoài và chảy vào thị trường vốn nội địa. Sự thay đổi các dòng vốn đầu tư này sau đó cũng được dịch chuyển sang thị trường ngoại hối làm giảm cầu và tăng cung ngoại tệ. Kết quả là đồng tiền trong nước lên giá so với ngoại tệ, hay tỷ giá giảm.
Tình hình lạm phát trong và ngoài nước: nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn ở nước ngoài, hàng hóa trong nước sẽ trở nên đắt đỏ hơn so với hàng hóa nước ngoài. Điều này dẫn đến gia tăng nhu cầu nhập hàng và sụt giảm nhu cầu hàng hóa nội địa. Sự thay đổi nhu cầu này đến lượt nó làm tăng cầu và giảm cung ngoại tệ. Kết quả là ngoại tệ lên giá so với nội tệ, hay tỷ giá gia tăng.
5 Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối: Nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế ngoài nước thì nhập khẩu tăng trưởng nhanh hơn xuất khẩu. Kết quả là cầu ngoại tệ tăng nhanh hơn cung ngoại tệ làm cho ngoại tệ lên giá so với nội tệ, hay tỷ giá tăng. Vai trò của chính phủ hay sự can thiệp của Ngân hàng trung ương: Chính phủ thông qua NHTW có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối. Sự can thiệp này thực hiện bằng việc bán ra hay mua vào ngoại tệ, từ đó tác động đến tỷ giá nhằm đạt mục tiêu chính sách tiền tệ của NHTW.
Các yếu tố khác như tình hình ổn định chính trị, kỳ vọng và sự tấn công của nhà đầu cơ, giá vàng và giá dầu trên thế giới, tình hình thu hút kiều hối… Các yếu tố trên đây có thể tác động riêng lẻ hoặc đồng thời tác động đến cung cầu ngoại tệ, từ đó tác động đến tỷ giá. Việc hiểu và phân tích yếu tố tác động đến tỷ giá rất quan trọng vì nó giúp cho chúng ta dự báo và hình thành kỳ vọng hợp lý về tỷ giá để từ đó có cơ sở ra quyết định liên quan về giao dịch ngoại tệ.4 Rủi ro tỷ giá: Rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động tỷ giá làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng trong tương lai. Rủi ro tỷ giá có thể phát sinh trong nhiều hoạt động khác nhau của doanh nghiệp. Nhưng nhìn chung bất cứ hoạt động nào mà ngân lưu thu vào phát sinh bằng một loại tiền và ngân lưu chi ra phát sinh bằng một loại tiền khác đều chứa đựng nguy cơ rủi ro tỷ giá.
Chẳng hạn, các công ty xuất nhập khẩu thường xuyên phải đối diện với rủi ro tỷ giá khi các khoản thanh toán bị trì hoãn được định danh bằng ngoại tệ. Một nhà nhập khẩu thường không nhận được hàng hoá ngay lập tức sau khi đặt hàng. Thường, hàng hóa trước tiên phải được sản xuất và thời gian lưu kho, vận chuyển. Theo thông lệ, các công ty bán hàng cung cấp cho nhà nhập khẩu một khoản tín dụng thương mại.
Kết quả của tất cả các trì hoãn trên khiến cho nhà nhập khẩu không bắt buộc phải chi trả tiền hàng cho đến 6 tháng, 1 năm thậm chí lâu hơn sau khi đặt hàng. Nhưng giá của sản phẩm thường được thỏa thuận vào thời điểm đặt hàng. Khi nhà nhập khẩu đồng ý với giá được tính theo đồng tiền của nước xuất 6 khẩu thì họ có khả năng phải đối phó với độ nhạy cảm về rủi ro tỷ giá từ các khoản phải trả nếu họ không tiến hành phòng ngừa rủi ro. Ngược lại, nếu giá cả được thoả thuận tính theo đồng tiền của nước nhập khẩu thì nhà xuất khẩu lại gặp phải độ nhạy cảm về rủi ro tỷ giá từ các khoản phải thu.