Tổng hợp đề đọc hiểu Ngữ văn 8 - Ngữ liệu trong và ngoài chương trình

Bộ đề đọc hiểu Ngữ văn 8 bao gồm các tài liệu từ SGK và ngoài SGK. Giúp học sinh luyện tập kỹ năng đọc hiểu văn bản và phát triển tư duy.

Chuyên ngành

Ngữ văn 8

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tài liệu ôn tập
216
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bộ đề đọc hiểu ngữ văn 8

Bộ đề đọc hiểu ngữ văn 8 bao gồm hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng phân tích, cảm thụ văn bản. Ngữ liệu được chọn lọc từ hai nguồn chính: sách giáo khoa và tài liệu mở rộng bên ngoài. Phần ngữ liệu trong sách giáo khoa bao gồm các tác phẩm quen thuộc như Trong lòng mẹ, Tức nước vỡ bờ, Cô bé bán diêm, Chiếc lá cuối cùng. Phần ngữ liệu ngoài chương trình bổ sung các bài báo, truyện ngắn, thơ ca đương đại. Bộ đề được thiết kế theo hai học kỳ, phân bổ đều nội dung theo từng đơn vị bài học. Mỗi đề thường gồm hai phần: đọc hiểu văn bản và nghị luận xã hội hoặc nghị luận văn học. Câu hỏi trải dài từ mức độ nhận biết, thông hiểu đến vận dụng cao. Phụ huynh và học sinh có thể sử dụng bộ đề này để ôn tập toàn diện, củng cố kiến thức đã học trên lớp.

1.1. Ngữ liệu trong sách giáo khoa ngữ văn 8

Ngữ liệu trong sách giáo khoa ngữ văn 8 bao gồm các văn bản thuộc nhiều thể loại. Truyện ngắn có Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng, Tức nước vỡ bờ của Ngô Tất Tố, Cô bé bán diêm của An-đéc-xen, Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ri. Thơ có Ngắm trăng của Hồ Chí Minh, Khi con tu hú của Tố Hữu. Văn bản nghị luận gồm Bàn luận về phép học của La Sơn Phu Tử, Đi bộ ngao du của Ru-xô. Ngoài ra còn có văn bản thông tin về ngày Trái Đất và bài phát biểu của các nhà thơ. Mỗi tác phẩm đều được khai thác ở nhiều góc độ khác nhau trong đề thi.

1.2. Ngữ liệu ngoài sách giáo khoa ngữ văn 8

Ngữ liệu ngoài sách giáo khoa được tuyển chọn từ nhiều nguồn đa dạng. Báo chí có bài Cái giá của khẩu trang của bác sĩ Võ Xuân Sơn trên VnExpress. Truyện ngụ ngôn lừng danh thế giới cung cấp bài học đạo đức sâu sắc. Thơ ca bao gồm Quê hương của Đỗ Trung Quân, Thăm cõi Bác xưa của Tố Hữu, Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh. Các cuốn sách nổi tiếng như Nếu biết trăm năm là hữu hạn của Phạm Lữ Ân, Hạt giống tâm hồn của NXB Trẻ, Quà tặng cuộc sống cũng được sử dụng rộng rãi. Ngữ liệu phong phú giúp học sinh mở rộng vốn hiểu biết.

II. Phân tích cấu trúc đề đọc hiểu ngữ văn 8

Cấu trúc đề đọc hiểu ngữ văn 8 được xây dựng theo nguyên tắc từ dễ đến khó. Phần đọc hiểu chiếm tỷ trọng lớn, thường gồm đoạn ngữ liệu ngắn kèm theo bốn câu hỏi trắc nghiệm và tự luận. Câu hỏi mức nhận biết yêu cầu xác định nội dung chính, thể loại văn bản. Câu hỏi mức thông hiểu đòi hỏi phân tích hình ảnh, biện pháp tu từ, cảm xúc nhân vật. Câu hỏi vận dụng cao yêu cầu liên hệ thực tế, bày tỏ ý kiến cá nhân. Phần nghị luận xã hội thường xoay quanh các chủ đề đạo đức, lối sống, trách nhiệm công dân. Phần nghị luận văn học yêu cầu phân tích nhân vật, tình huống truyện hoặc cảm nhận bài thơ. Thời gian làm bài dao động từ bốn mươi lăm phút đến chín mươi phút tùy kỳ thi.

2.1. Các dạng câu hỏi đọc hiểu thường gặp

Dạng câu hỏi đọc hiểu trong đề ngữ văn 8 gồm nhiều loại hình khác nhau. Câu hỏi xác định nội dung yêu cầu tìm ý chính, tóm tắt đoạn văn. Câu hỏi phân tích hình ảnh nghệ thuật đòi hỏi chỉ ra và giải thích ý nghĩa của các chi tiết đặc sắc. Câu hỏi về biện pháp tu từ kiểm tra kiến thức về ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ, so sánh. Câu hỏi cảm nhận yêu cầu diễn đạt cảm xúc, suy nghĩ trước vẻ đẹp của tác phẩm. Câu hỏi liên hệ thực tế đòi hỏi vận dụng kiến thức vào đời sống hàng ngày. Học sinh cần nắm vững đặc điểm từng dạng để có chiến lược làm bài phù hợp.

2.2. Mức độ phân hóa trong đề đọc hiểu ngữ văn 8

Đề đọc hiểu ngữ văn 8 có sự phân hóa rõ ràng giữa các mức độ câu hỏi. Mức nhận biết chiếm khoảng hai mươi phần trăm, kiểm tra khả năng ghi nhớ kiến thức cơ bản. Mức thông hiểu chiếm khoảng bốn mươi phần trăm, đòi hỏi học sinh hiểu sâu nội dung văn bản. Mức vận dụng chiếm khoảng ba mươi phần trăm, yêu cầu áp dụng kiến thức vào tình huống mới. Mức vận dụng cao chiếm khoảng mười phần trăm, thử thách khả năng sáng tạo và tư duy độc đáo. Sự phân hóa này giúp đánh giá chính xác năng lực của từng học sinh, đồng thời tạo động lực phấn đấu cho các em.

III. Phương pháp luyện đề đọc hiểu ngữ văn 8 hiệu quả

Luyện đề đọc hiểu ngữ văn 8 đòi hỏi phương pháp khoa học và kiên trì. Bước đầu tiên là đọc kỹ toàn bộ ngữ liệu, gạch chân từ khóa quan trọng. Tiếp theo, phân tích yêu cầu câu hỏi để xác định đúng dạng bài cần làm. Với câu hỏi nhận biết, chỉ cần tìm thông tin trực tiếp trong văn bản. Với câu hỏi phân tích, cần liên hệ kiến thức đã học về biện pháp nghệ thuật, phong cách tác giả. Với câu hỏi vận dụng, phải biết liên hệ thực tế đời sống hoặc các tác phẩm khác. Học sinh nên luyện tập thường xuyên, mỗi tuần hoàn thành ít nhất hai đề. Sau khi làm bài, cần đối chiếu đáp án, rút kinh nghiệm từ lỗi sai. Phụ huynh có thể đồng hành cùng con, tạo không gian học tập yên tĩnh, hỗ trợ giải đáp thắc mắc kịp thời.

3.1. Kỹ thuật đọc và phân tích ngữ liệu nhanh

Kỹ thuật đọc nhanh giúp học sinh tiết kiệm thời gian khi làm đề đọc hiểu. Đầu tiên, đọc lướt toàn bộ văn bản để nắm nội dung chính trong vòng hai phút. Tiếp theo, đọc kỹ đoạn chứa thông tin liên quan đến câu hỏi. Dùng bút gạch chân các từ khóa, chi tiết quan trọng. Xác định thể loại văn bản để áp dụng đúng phương pháp phân tích. Với truyện ngắn, chú ý nhân vật, tình huống, kết cục. Với thơ, tập trung vào hình ảnh, nhịp điệu, cảm xúc. Với văn bản nghị luận, tìm luận điểm, luận cứ, phương thức lập luận. Luyện tập kỹ thuật này thường xuyên sẽ cải thiện tốc độ và độ chính xác đáng kể.

3.2. Cách trình bày bài đọc hiểu đạt điểm cao

Trình bày bài đọc hiểu đúng cách giúp học sinh giành được điểm tối đa. Câu trả lời cần ngắn gọn, súc tích, đi thẳng vào vấn đề yêu cầu. Sử dụng thuật ngữ văn học chính xác như ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ, giọng điệu trần thuật. Trình bày theo cấu trúc rõ ràng: nêu nhận định, dẫn chứng từ văn bản, giải thích ý nghĩa. Viết câu hoàn chỉnh, không mắc lỗi chính tả, dùng từ phù hợp ngữ cảnh. Với câu hỏi cảm nhận, bày tỏ suy nghĩ chân thành nhưng logic, có cơ sở. Với câu hỏi liên hệ, đưa ra ví dụ cụ thể, thiết thực từ đời sống. Kiểm tra lại bài trước khi nộp để sửa lỗi nhỏ.

IV. Ứng dụng bộ đề đọc hiểu ngữ văn 8 trong học tập

Bộ đề đọc hiểu ngữ văn 8 có nhiều ứng dụng thực tiễn trong quá trình học tập. Giáo viên sử dụng bộ đề để kiểm tra định kỳ, đánh giá năng lực học sinh. Phụ huynh dùng bộ đề để hỗ trợ con ôn tập tại nhà, theo dõi tiến bộ. Học sinh có thể tự luyện tập để chuẩn bị cho các kỳ thi giữa kỳ, cuối kỳ. Bộ đề cũng hữu ích cho việc chuẩn bị thi tuyển sinh lớp mười hoặc các cuộc thi học sinh giỏi. Ngoài ra, việc luyện đọc hiểu thường xuyên giúp phát triển tư duy phản biện, khả năng phân tích vấn đề. Học sinh trở nên nhạy bén hơn trong việc đánh giá thông tin, hình thành quan điểm cá nhân. Đây là kỹ năng quý giá không chỉ trong học tập mà còn trong cuộc sống hàng ngày.

4.1. Ôn thi giữa kỳ và cuối kỳ với bộ đề ngữ văn 8

Ôn thi giữa kỳ và cuối kỳ bằng bộ đề đọc hiểu mang lại hiệu quả cao cho học sinh. Trước kỳ thi hai tuần, học sinh nên hoàn thành toàn bộ đề liên quan đến phần kiến thức cần thi. Mỗi ngày dành ba mươi phút luyện một đề, tập trung vào dạng câu hỏi yếu. Sau khi làm bài, ghi chú lỗi sai vào sổ tay để ôn lại. Học nhóm cùng bạn bè cũng là phương pháp hữu ích, giúp trao đổi kiến thức và phát hiện điểm chưa hiểu. Giáo viên nên hướng dẫn học sinh cách phân bổ thời gian hợp lý khi làm bài thi. Việc chuẩn bị kỹ lưỡng giúp học sinh tự tin, đạt kết quả cao trong các kỳ thi quan trọng.

4.2. Phát triển kỹ năng đọc hiểu lâu dài cho học sinh lớp 8

Phát triển kỹ năng đọc hiểu là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì của học sinh lớp 8. Ngoài việc luyện đề, học sinh nên đọc thêm sách báo, tạp chí để mở rộng vốn từ vựng. Tham gia các câu lạc bộ đọc sách, diễn đàn văn học giúp rèn luyện tư duy phê bình. Viết nhật ký đọc sách, ghi lại cảm nhận về mỗi cuốn sách đã đọc cũng rất bổ ích. Phụ huynh khuyến khích con đọc nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, bài luận. Giáo viên tổ chức các hoạt động đọc hiểu sáng tạo như đóng kịch, thuyết trình nhóm. Sự đầu tư thời gian và công sức hôm nay sẽ mang lại kết quả bền vững trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Bộ đề đọc hiểu ngữ văn 8 ngữ liệu trong và ngoài sách giáo khoa cả năm

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ ĐỌC – HIỂU NGỮ VĂN 8 – NGỮ LIỆU NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH MỤC LỤC ĐỀ NGỮ LIỆU TRANG 1. Trích bài Cái giá của khẩu trang, Bác sĩ Võ Xuân Sơn trên báo 4 vnexpressnet, 5/2/2020 2. Theo: Truyện ngụ ngôn lừng danh thế giới 7 3. Theo Trần Hồng Thắng 10 4.

Những mẩu chuyện thiếu nhi chọn lọc – NXB Kim Đồng, 2009 12 5. Thăm cõi Bác xưa – Tố Hữu 15 6. Quê hương – Đỗ Trung Quân 17 7. Theo Từ điển văn học 23 9.

“Nhớ con sông quê hương”, Tế Hanh 27 Theo Phạm Lữ Ân, “Nếu biết trăm năm là hữu hạn”, NXB Hội Nhà văn 10. Qùa tặng cuộc sống 29 11. Trích “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” - Nguyễn Duy, NXB Hội 31 nhà văn, 2010 12. Theo Hạt giống tâm hồn, NXB Trẻ, TP.

Hồ Chí Minh, 2004 36 13. Cổ tích về sự ra đời của người mẹ 39 14. Trích “Quà tặng cuộc sống” 43 15. Nghe thầy đọc thơ – Trần Đăng Khoa 46 16.

Trích bài phát biểu của Vũ Quần Phương 49 17. Trích Bài học đầu cho con - Đỗ Trung Quân 56 19. “Hoa hồng tặng mẹ” – Qùa tặng cuộc sống 60 20. “Hạt giống tâm hồn”, tập 4, nhiều tác giả.

NXB tổng hợp TP 61 Hồ Chí Minh 21. “Lục bát về cha"- Thích Nhuận Hạnh 65 22. Bản thân chúng ta là những giá trị có sẵn - Phạm Lữ Ân 68 23. Nơi bắt đầu của tình bạn - Bùi Thị Hồng Ngọc 75 25.

Một góc phù sa, Nguyễn Minh Khiêm, NXB Hội Nhà văn, 77 1 2007 26. Tạ ơn cây, Vũ Quần Phương 80 27. Kiệt tác của tình thương - Phạm Nguyễn Phương Dung 82 28. Trích “Con có biết” - Nhã Nam tuyển chọn 83 29.

Cầm Thị Đào, “Khép”, Văn học và tuổi trẻ-số 5/2004, trang 49 85 2 BỘ ĐỌC – HIỂU NGỮ VĂN 8 – NGỮ LIỆU TRONG CHƯƠNG TRÌNH MỤC LỤC STT VĂN BẢN ĐỀ TRANG HỌC KÌ I 1. Trong lòng mẹ 5, 6, 7, 8, 9A,B 95 3. Tức nước vỡ bờ 10, 11, 12, 13, 14, 15 102 4. Cô bé bán diêm 20, 21, 22 117 6.

Chiếc lá cuối cùng 23, 24 121 7. Ôn dịch thuốc lá 25, 16, 27 125 8. Hai cây phong 28, 29, 30, 31, 32 129 9. Thông tin về ngày trái đất năm 2000 33, 34 138 10.

Đập đã ở Côn Lôn 35, 36 141 11. Vào nhà ngục quảng đông cảm tác 37 144 HỌC KÌ II 12. Khi con tu hú 11, 12, 13 160 15. Ngắm trăng 14, 15 165 16.

Nước Đại Việt ta 26, 27, 28 184 21. Bàn luận về phép học 29, 30, 31 187 22. Đi bộ ngao du 35, 36, 37 197 24. Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục 38, 39 201 3 ĐỀ SỐ 1 Phần I: Đọc hiểu Đọc đoạn ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi từ câu 1 đến câu 4 Đối với vi trùng, chúng ta có kháng sinh là vũ khí hỗ trợ đắc lực cho hệ miễn dịch của cơ thể.

Song với virus, toàn bộ gánh nặng đều được đặt lên vai hệ miễn dịch. Điều này giải thích, tại sao virus corona gây chết người ở người lớn tuổi, có bệnh mãn tính nhiều hơn. Tất nhiên, vẫn còn hai bí ẩn: nó gây chết nam giới nhiều hơn, và trẻ em - người có hệ miễn dịch chưa phát triển tốt - lại ít bị nhiễm hơn. Như vậy, trong đại dịch do virus corona gây ra lần này, vũ khí tối thượng mà chúng ta có là hệ miễn dịch của chính mình.

Tất cả các biện pháp đang được khuyến cáo như mang khẩu trang, rửa tay, tránh tiếp xúc. chỉ hạn chế khả năng virus này xâm nhập vào cơ thể ta. Còn khi nó đã xâm nhập rồi, chỉ có hệ miễn dịch mới cứu được chúng ta. Muốn cho hệ miễn dịch khỏe mạnh, cần ăn uống đủ chất, đủ vitamin, tập luyện thể thao.

Đặc biệt, lối sống vui vẻ, lạc quan giúp hệ miễn dịch rất nhiều. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên? Câu 2. Câu: “Tất cả các biện pháp đang được khuyến cáo như mang khẩu trang, rửa tay, tránh tiếp xúc. chỉ hạn chế khả năng virus này xâm nhập vào cơ thể ta” xét theo mục đích nói thuộc kiểu câu gì? Câu 3.

Theo tác giả muốn cho hệ miễn dịch khỏe mạnh, ta cần phải làm gì? II. Phần làm văn Câu 4: Từ nội dung đoạn trích ở phần đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ về tinh thần tương thân tương ái trong phòng, chống COVID -19. Câu 5: Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về vấn nghiện game của giới trẻ hiện nay. Đọc hiểu Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi: 4 (1) Một người hỏi nhà hiền triết: (2) Cái gì nên nhớ và cái gì nên quên? (3) Nhà hiền triết trả lời: (4) Nếu mọi người làm điều tốt cho anh thì anh nên nhớ.

Còn nếu anh làm điều tốt cho mọi người thì anh nên quên. Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên? b. Xác định các kiểu câu phân chia theo mục đích nói cho các câu trên. Xác định cách thực hiện hành động nói của các câu trên? d.

Viết đoạn văn ngắn (khoảng 5 – 8 câu) nói lên bài học rút ra từ câu chuyện trên? PHẦN II. Làm văn Viết bài văn nghị luận nói lên suy nghĩ của em về nạn bạo lực học đường hiện nay ở trường THCS. ĐỀ 3: Câu 1: Đọc văn bản sau đây và trả lời các câu hỏi: Bờ ao đầu làng có một cây si già. Thân cây to, cành lá sum xuê, ngả xuống mặt nước.

Một cậu bé đi ngang qua. Sẵn con dao nhọn trong tay, cậu hí hoáy khắc tên mình lên thân cây. Cây đau điếng, nhưng cố lấy giọng vui vẻ, hỏi cậu: - Chào cậu bé! Tên cậu là gì nhỉ? - Cháu tên là Ngoan. - Cậu có cái tên mới đẹp làm sao! Mặt cậu bé rạng lên.

Cậu nói: - Cảm ơn cây. - Này, vì sao cậu không khắc tên lên người cậu? Như thế có phải tiện hơn không? - Cây hỏi. Cậu bé rùng mình, lắc đầu: - Đau lắm cháu chịu thôi! - Vậy, vì sao cậu lại bắt tôi phải nhận cái điều cậu không muốn? (Theo Trần Hồng Thắng) a. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên.

Cậu bé trong văn bản đã có hành động gì với cây si già? Hành động đó đúng hay sai? Vì sao? c. Xác định kiểu câu và chức năng của câu sau: Tên cậu là gì nhỉ? d. Đặt tiêu đề cho văn bản trên. Từ hành động của cậu bé trong văn bản trên, em có suy nghĩ gì về sự vô cảm của một bộ phận học sinh hiện nay? Trả lời khoảng 3 – 5 dòng.

5 Câu 2: Nêu suy nghĩ về câu tục ngữ: “Học đi đôi với hành” (Bài văn nghị luận sử dụng yếu tố tự sự, miêu tả và biểu cảm). GỢI Ý : ĐỀ1 Câu Hướng dẫn chấm I. Phần đọc - hiểu 1 Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận 2 Xét kiểu câu theo phân chia mục đích nói, câu: “Tất cả các biện pháp đang được khuyến cáo như mang khẩu trang, rửa tay, tránh tiếp xúc. chỉ hạn chế khả năng virus này xâm nhập vào cơ thể ta” thuộc kiểu câu trần thuật 3 Theo tác giả muốn cho hệ miễn dịch khỏe mạnh: - Cần ăn uống đủ chất, đủ vitamin - Tập luyện thể thao.

- Đặc biệt, lối sống vui vẻ, lạc quan giúp hệ miễn dịch rất nhiều Phần Tập làm văn 4 Trình bày suy nghĩ của mình về tinh thần tương thân tương ái trong phòng, chống COVID -19. Yêu cầu về kĩ năng - Viết được một đoạn văn nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lí theo yêu cầu. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. - Dung lượng đoạn văn: khoảng 150 chữ 2.

Yêu cầu về kiến thức Học sinh đảm bảo được các nội dung cơ bản sau: 1. Mở đoạn Giới thiệu được vấn đề nghị luận: tinh thần tương thân tương ái trong phòng, chống COVID -19. Phát triển đoạn a.Giải thích: Tương thân tương ái: là mọi người cùng yêu thương, đùm bọc, sống hòa thuận, tình cảm với nhau bằng tình thương giữa con người với con người.Bàn luận, chứng minh: - Khẳng định: Tương thân tương ái là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. 6 - Biểu hiện: Yêu thương, đùm bọc, cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau đặc biệt trong đợt dịch bệnh Covid 19.

- Vai trò + Phát huy bản sắc tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ của ông cha ta từ xưa đến nay. Việc làm này xuất phát từ trái tim (dẫn chứng) + Khi quan tâm giúp đỡ người khác sẽ cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc bởi đã chia sẻ giúp họ vượt qua được khó khăn. + Người nhận được sự giúp đỡ cũng nhận được tình thương của người xung quanh, … c. Mở rộng, phản biện: - Một số người thờ ơ, vô cảm, ích kỷ chỉ nghĩ cho bản thân.

- Có những người ỷ lại trông chờ vào sự giúp đỡ của người khác 3. Kết đoạn - Cần nhận thức đúng đắn về tinh thần tương thân tương ái. - Phát huy tinh thần tương thân tương ái của dân tộc ta trong sinh hoạt, học tập, sẵn sàng tham gia các hoạt động xã hội giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn. Tạo lập văn bản Nội dung *Mở bài: Giới thiệu hiện tượng nghiện game, một vấn đề đang được xã hội quan tâm hiện nay.

* Thân bài: - Thực trạng: + Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu giải trí ngày càng cao, chính vì thế mà game online ngày càng phổ biến + Các quán internet lúc nào cũng chật người. + Tình trạng nghĩ học ở học sinh sinh viên ngày càng nhiều. - Nguyên nhân: + Là trò chơi hấp dẫn, phù hợp với tâm lí giới trẻ. + Nhưng nguyên nhân chính là do người chơi không tự làm chủ, điều khiển được bản thân mình để sa đà vào game đến mức không thể dứt ra được.

+ GĐ chưa quản lí chặt chẽ con em mình, chưa quan tâm đúng cách, nhà trường chưa tạo được nhiều sân chơi cho học sinh, áp lực học tập nhiều. + Nhà nước chưa quản lý chặt chẽ hệ thống mạng internet. 7 - Hậu quả: + Ảnh hưởng đến sức khỏe con người: khoa học đã chứng minh, nếu chúng ta tiếp xúc với máy tính nhiều sẽ rất ảnh hưởng đến cơ thể như: hại mắt, tổn thương đến hệ thần kinh,…. + Khi chơi game thì dành ít thời gian học tập, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến kết quả của chúng ta bị giảm sút.

+ Chơi game còn ảnh hưởng tới lối sống đạo đức, tác phong.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ