Chương 1 MỘT SO VAN DE LÝ LUẬN VE CÁC BIEN PHAP BAO DAM TAI HOA NHẬP CONG DONG CHO NGƯỜI CHAP HANH XONG AN PHAT TU VA QUY DINH CUA PHAP LUAT THI HANH AN HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Một số vấn đề lý luận về các biện pháp bảo đảm tái hoà nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa tái hòa nhập cộng đồng doi với người chấp hành xong án phạt tù 1. Khái niệm tái hòa nhập cộng dong đổi với người chấp hành xong án phạt tù Có rất nhiều quan điểm khác nhau về người chấp hành xong án phạt tù, trước hết, có thé hiểu răng “người phải chấp hành án là người bị kết tội và phải chịu hình phạt theo bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Người chấp hành án phạt tù (phạm nhân) là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân. Đây là những đối tượng đã hết thời hạn chấp hành bản án do Tòa án nhân dân quyết định, được tha về địa phương” [12, tr. Theo tác giả luận văn, nếu xác định như vậy thì đối tượng mãn hạn tù chỉ bao gồm những đối tượng đã chấp hành xong bản án ở các trại giam, trại cải tạo hết thời gian cảitượng đã chấp hành xong bản án ở các trại giam, trại cải tạo hết thời gian cải tạo theo quyết định của Tòa án được tha về địa phương mà không bao gồm số đối tượng tù tha được giảm thời hạn chấp hành án, được đặc xá không nằm trong diện đối tượng tù tha. Theo Từ điền Nghiệp vụ phô thông thì “tù tha về là những người phạm tội bị phạt án tù giam đã hết hạn được tha hoặc chưa hết hạn nhưng được ân xá, ân giảm tha về.
Cần quản lý chặt chẽ đối tượng tù tha về và cần bó trí công ăn việc làm cho họ, tạo điều kiện để cho họ làm ăn lương thiện” [30]. Nếu hiểu theo ^ quan điểm này thì đối tượng chấp hành xong án phạt tù bao gồm số đối tượng bị phat án tù giam được tha kể cả số đã hết thời hạn nhưng ân xá, ân giảm tha về do có nhiều tiến bộ trong quá trình cải tạo. Khái niệm này đã có cái nhìn toàn diện hơn so với những quan điểm trên về phạm nhân mãn hạn tù, tuy nhiên chưa phân định được rõ phạm nhân có thời hạn với phạm nhân chung thân được tha về và cũng chưa đề cập tới van đề đối tượng là phạm nhân được đặc xá. Để có được khái niệm đầy đủ về người mãn hạn tủ, Điều 2 Quyết định của Chủ tịch nước số 35/QD-CTN ngày 23/2/2000 về đặc xá năm 2000 cũng chỉ rõ: “Đối tượng được xét đặc xá tha tù là những phạm nhân đang chấp hành án tại các trại giam do Bộ Công an và Bộ Quốc phòng quan lý, ké cả những phạm nhân đang được tạm đình chỉ thi hành án phạt tù hoặc hoãn thi hành án phạt tù có những hoàn cảnh đặc biệt theo luật định” [11].
Theo đó thì đối tượng đặc xá bao gồm ba loại: Phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam thuộc Bộ Công an và Bộ Quốc phòng và quản lý có nhiều tiến bộ được tha trước thời hạn; Phạm nhân trong thời gian được tạm đình chỉ thi hành án phạt tù có nhiều tiến bộ được miễn thi hành án phạt tù; Những người bị kết án tù trong thời gian được hoãn thi hành án phạt tù có nhiều tiến bộ được miễn hình phạt tù. Như vậy, người chấp hành xong hình phạt tù là những người có hành vi phạm tội đã bị Tòa án nhân dân kết án bằng bản án tà chung thân hoặc có thời hạn, phải chấp hành hình phạt tù tại các trại giam hoặc trại tạm giam, bị cách ly khỏi đời sống xã hội nay đã chấp hành xong hình phạt tù hoặc vì một lý do nào đó được tha ra khỏi trại giam, được trở về với đời sông xã hội công dong. Khái niệm trên đã đưa ra một cách khá tổng quát và toàn diện về người chấp hành xong án phạt tù. Theo đó, trước tiên khăng định về những người chấp hành án phạt tù là những người đã bị kết án bằng Bản án của Toà án có 10 hiệu lực pháp luật.
Trong đó áp dụng hình phạt tù có thê là tù chung thân hoặc tù có thời hạn hoặc tù chung thân, và người chấp hành án phải chấp hành án ở trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ (không quá 15% va đáp ứng điều kiện nhất định). Tiếp đó, khăng định sau khi người chấp hành xong án phạt tù hoặc lý do người chấp hành xong án phạt tù sớm hơn như được đại xá, đặc xá hoặc đủ điều kiện giảm thời hạn chấp hành án (khi đáp ứng các điều kiện nhất định) thì cũng được xem là người chấp hành xong án phạt tù. Tuy nhiên, cần lưu ý rõ trường hợp đặc xá đối với những phạm nhân đang chấp hành án sau đó được đặc xá, không áp dụng với những trường hợp người bị tuyên án nhưng chưa đi chấp hành hình phạt tù do thuộc các trường hợp được hoãn chấp hành án phạt tù hoặc tạm đình chi chấp hành án phạt tủ thì không được xem là chấp hành xong án phạt tù. Các đối tượng bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác theo Điều 20 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính như: “Cải tạo ở các cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh được về địa phương không phải là đối tượng mãn hạn tù.
Các đối tượng chấp hành các hình phạt của Tòa án nhưng được cải tạo ở ngoài xã hội như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất đã hết thời hạn cải tạo và số bị áp dụng các hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp khác như: Cam cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân và kế cả án treo (trú trường hợp đối tượng đã chấp hành xong án phạt tù phải áp dụng hình phạt bé sung) thì không phải đối tượng mãn hạn tù”. Ở khái niệm này, theo tác giả nên thay việc liệt kê lý do được chấp hành xong án phạt tù thì tính thời điểm họ được cấp các giấy chứng nhận thé hiện việc chấp hành xong án phat tù sẽ hợp ly hon. Bao gồm giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, giấy chứng nhận đặc xá và quyết định đại xá. Riêng đối với trường hợp đại xá sẽ được coi là không có án tích nên chỉ cần có quyết định đại xá là họ nghiễm nhiên được trở về tái hoà nhập cộng đồng mà không cân có giây chứng nhận.
11 Từ những phân tích nêu trên có thé đưa ra khái niệm người chấp hành xong án phạt tù là người đã thực hiện hành vi phạm tội, đã bị Toà án kết án băng bản án có hiệu lực thi hành tuyên người bị kết án phải chấp hành án phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân. Thực tế đã đi chấp hành án tại cơ sở giam giữ, sau đó đã chấp hành xong hình phạt tù có quyết định, giấy chứng nhận thê hiện họ đã chấp hành xong hình phạt tù. Về khái niệm tái hoà nhập cộng đồng, theo Từ điển Black 'Law Dictionary thì “Tái hoà nhập (Rehabilitation) là việc khôi phục lại các quyền cá nhân của người phạm tội đã bị tước đi theo bản án do toà án tuyên”. Tuy nhiên, gần đây, từ điển này được tái bản lần thứ 7 năm 2003, thuật ngữ Rehabilitation đã được giải thích theo cách mới hơn: “đó là quá trình hoàn thiện tính cách và quan điểm sống của người bị kết án dé người đó có thé hoạt động trong xã hội mà không tái phạm tội”.
Từ điển Pháp luật Anh- Việt do TS. Vũ Trọng Hùng chủ biên” thì phân biệt ít nhất ba loại hay ba cấp độ tái hoà nhập: Phục hồi cải tạo- (Correctional Rehabilitation)- là việc phục hồi nhân phẩm, cải tạo con người phạm tội; Phục hồi pháp lý (Legal Rehabilitation) là sự phục hồi về mặt pháp lý các quyền của người bị kết án phạt tù; Phục hồi xã hội (Social Rehabilitation) là sự phục hồi của người bị kết án tù về mặt xã hội, sự hoà nhập lại của người đó với đời sông xã hội. Một số tác giả khác cho rằng, tái hoà nhập cộng đồng được tiếp cận ở góc độ nhỏ hơn, là biện pháp quản lý của chính quyền địa phương và của cộng đồng đối với những người phạm tội sau khi ra khỏi các cơ sở giam giữ. Bên cạnh đó đa phần các quan điểm đều cho rằng tái hòa nhập xã hội là quay lại lần thứ hai hòa nhập với cộng đồng xã hội đối với những người có quá khứ tội lỗi sau một thời gian bị cách ly khỏi xã hội, cộng 12 đồng dân cư.
Tuy nhiên có thé hiểu tái hòa nhập xã hội như sau: “Tdi hòa nhập xã hội là xóa đi những quá khứ toi lỗi và mặc cảm của người phạm tội, tạo cơ hội, bình thường hóa các mối quan hệ dé họ hội nhập với cộng đồng nơi cự tru voi tu cách là một công dân, một thành viên cua gia đình, cộng dong xã hội” [1, tr. Day là những biện pháp tác động tích cực giúp đỡ những người lầm lỗi, những người có quá khứ phạm tội xóa bỏ đi mọi mặc cảm của bản thân họ đối với cộng đồng, gia đình và xã hội đề họ có thể trở về là người dân lương thiện với đúng nghĩa của nó. Tác giả Luận văn đưa ra khái niệm khoa học về tái hoà nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phat tù như sau: Tdi hoà nhập cộng đồng đổi với nguoi chap hành xong án phạt tù là một quá trình với nhiễu giai đoạn khác nhau có nội dung bao gốm các biện pháp, cách thức và chương trình hòa nhập xã hội được thiết kế riêng biệt nhằm mục đích đưa người phạm toi trở về với xã hội trở thành những người có ích sau một thời gian bị cách ly khỏi xã hội với sự tham gia cua chính bản thân người phạm tội và Nhà nước cũng như cộng đông xã hội; thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước dong thời góp phan on định an ninh và phòng chong tội phạm. Đặc điểm tái hòa nhập cộng đông đối với người chấp hành xong án phạt tù Tái hòa nhập cộng đồng là sự kết hợp giữa tác động xã hội tích cực và nỗ lực của cá nhân nhằm giúp tù nhân tái hòa nhập cộng đồng nhanh chóng.