CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGĂN NGỪA, HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về hoạt động tín dụng Tín dụng hay gốc la tinh là Creditum là định nghĩa có nguồn gốc từ lâu đời với ý nghĩa chính là sự tin tưởng, tín nhiệm (Bùi Diệu Anh và cộng sự, 2013).
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động quan trọng của nền kinh tế nói chung và ngân hàng nói riêng. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động tín dụng được đánh giá và nhìn nhận từ nhiều góc độ trong nhiều nghiên cứu. Năm 2007, nghiên cứu của Vũ Văn Hóa (2007) đưa đến một cái nhìn chung nhất về hoạt động tín dụng, xem đó là quan hệ vay mượn có mục đích của bên cho vay và có sự hoàn trả của bên vay trong một thời hạn nhất định. Ở mỗi thời điểm khác dù các hình thái kinh tế và tốc độ phát triển kinh tế thay đổi qua từng thời kỳ.
Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thống trị, hàng hóa, tư liệu sản xuất là tài sản lớn, tín dụng là hoạt động có hình thức vay mượn bằng hiện vật và hàng hóa.Khi nền kinh tế phát triển cao hơn với sự ra đời của tiền tệ, hình thức của tín dụng chuyển từ hiện vật hàng hóa thành tiền tệ. Khi ngân hàng ra đời và phát triển, hoạt động tín dụng trở nên phổ biến hơn và dần trở thành chức năng cơ bản của NHTM, là thành phần quan trọng của trong việc tạo nên tài sản có và thu nhập của ngân hàng. Theo Luật các TCTD được cập nhật năm 2017, các thuật ngữ có liên quan đến hoạt động tín dụng có quy định về sự thỏa thuận, cho phép một cá nhân, tổ chức sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả thông qua các nghiệp vụ như cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Nói một cách khác, tín dụng cũng thể hiện mối quan hệ giữa các cá nhân và tổ chức liên quan đến một quá trình tích lũy một khoản tiền vốn và trên cơ sở là niềm tin, tín chấp, cho phép một cá nhân/tổ chức khác sử dụng nhằm mục đích đáp ứng được nhu cầu vốn cho quá trình tái sản xuất và phải hoàn trả theo một khoảng thời gian đã thỏa thuận.
13 Trong quá trình này, ngân hàng vừa đóng vai trò là người vay và là người cho vay. Từ những định nghĩa đó cho thấy tín dụng là một giao dịch giữa hai chủ thể (bên cho vay ngân hàng và bên đi vay là cá nhân/doanh nghiệp/chủ thể kinh tế khác) mà hoạt động chính là giao dịch chuyển giao tài sản (tiền hoặc hàng hóa) cho bên vay sử dụng để đáp ứng nhu cầu trong một thời gian nhất định được thống nhất giữa hai bên. Khi đã hết thời hạn thỏa thuận, phía vay cần có trách nhiệm thanh toán gốc và lãi cho bên cho vay. Mặc dù có sự chuyển đổi quyền sử dụng tài sản nhưng tín dụng không đồng nghĩa với việc chuyển đổi quyền sở hữu tài sản.
Tín dụng nhấn mạnh vào việc khách hàng cần sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thông báo trong hợp đồng giữa hai bên, trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện của bên vay đối với bên cho vay cả tiền gốc và lãi nhằm đảm bảo quyền sở hữu tài sản không bị thay đổi và mang đến lợi tức tín dụng. Mặc dù là hoạt động căn bản, phổ biến trong nền kinh tế nhưng đây là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro bởi cơ sở để bên cho vay quyết định bên vay thuê phần lớn thuộc về niềm tin, khả năng tài chính, thanh toán của bên thuê, mối quan hệ, sự tín nhiệm hoặc phải kèm theo hình thức bảo đảm tín dụng. Đối với ngân hàng, để có được nguồn vốn đáp ứng được nhu cầu các bên cần vay, ngân hàng cần phải thực hiện việc huy động vốn với những đối tượng nhàn rỗi vốn mong muốn tìm kênh đầu tư ổn định và có lãi. Do đó, Ngân hàng sẽ dựa vào nguồn vốn nhàn rỗi của một nhóm đối tượng này để cho vay một nhóm đối tượng khác đang cần vốn.
Điều này đồng nghĩa ngân hàng sẽ rơi vào khủng hoảng khả năng chi trả nếu các khoản nợ đến hạn không được thu hồi, mất niềm tin vào khách hàng vì không thể hoàn trả tiền gửi và lãi tiền gửi. Mặc dù NHNN có thể hỗ trợ NHTM một số trường hợp gặp khó khăn về việc thanh toán cho khách hàng, bản thân NHTM cũng đánh mất uy tín và danh tiếng của mình với các khách hàng đang hoặc có ý đinh sử dụng ngân hàng đó. Phân loại tín dụng Dựa trên các tiêu chí khác nhau, tín dụng của ngân hàng thương mại cũng được phân chia thành nhiều loại. Theo Bùi Diệu Anh và cộng sự (2013), Nguyễn Văn Tiến (2013), tín dụng ngân hàng có thể phân loại theo các tiêu chí sau: 1.1 Theo đối tượng khách hàng Theo đối tượng khách hàng, tín dụng NHTM được chia thành tín dụng cá nhân, tín dụng doanh nghiêp và tín dụng các định chế tài chính khác.
Trong đó, tín dụng cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh của các đối tượng khách hàng cá nhân trong nền kinh tế (Bùi Diệu Anh và cộng sự, 2013). Tín dụng doanh nghiệp là loại tín dụng dành cho các tổ chức sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế, vay vốn trung dài hạn để bổ sung vốn lưu động, mua máy móc thiết bị hoặc thực hiện dự án đầu tư. Đối với tín dụng dành cho các định chế tài chính, khách hàng vay là các tổ chức tài chính như NHTM khác, công ty tài chính… nhằm bổ sung vốn chủ yếu để đảm bảo khả năng thanh khoản. Việc phân loại theo đối tượng khách hàng giúp ngân hàng dễ dàng hơn trong việc quản lý các khoản vay, đảm bảo chất lượng tín dụng, hạn chế rủi ro.
Từ đó có chiến lược trong việc phân bổ các nguồn vốn của ngân hàng dành cho các chủ thể với mục đích vay vốn đa dạng khác nhau.2 Theo thời hạn cho vay Thời hạn cho vay là một trong những yếu tố quan trọng của hoạt động tín dụng, theo tiêu chí này, tín dụng được chia làm tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn (Nguyễn Văn Tiến, 2013). - Tín dụng ngắn hạn: Thời hạn cho vay được quy định từ 12 tháng trở xuống, thường là hình thức cho vay cho các tổ chức kinh tế và cá nhân có nhu cầu chi tiêu ngắn hạn. - Tín dụng trung hạn: Thời hạn cho vay từ trên 1 đến 5 năm, thường chủ yếu đầu tư vào tài sản cố định, trang thiết bị máy móc, các dự án vừa và nhỏ có khả năng thu hồi vốn nhanh. cho vay trung hạn còn là nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp.
Còn đối với cá 15 nhân là nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản cố định hoặc chi tiêu những khoản tiêu dùng có giá trị lớn. - Tín dụng dài hạn: Thời hạn cho vay từ trên 5năm trở lên, thường để đáp ứng nhu cầu đầu tư, kinh doanh các dự án dài hạn. Vì cơ chế của tín dụng là huy động nguồn vốn rảnh rỗi của đối tượng này đáp ứng nhu cầu của đối tượng cần vay vốn nên ngân hàng cần đảm bảo được sự cân đối thời hạn giữa các khoản vay và thời hạn của nguồn vốn ngân hàng huy động đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng vào từng kỳ hạn. Bên cạnh đó, thời hạn cho vay càng cao thì rủi ro càng lớn nên ngân hàng phải đánh giá các khoản tín dụng theo thời hạn.3 Theo mức độ tín nhiệm của khách hàng Tùy vào đặc điểm liên quan đến khả năng trả nợ và uy tín của từng đối tượng khách hàng khác nhau mà ngân hàng tiến hành cấp tín dụng khác nhau.
Cụ thể: - Tín dụng không đảm bảo: Đây là hình thức tín dụng tạo ra nhiều rủi ro cho ngân hàng khi NHTM không áp dụng biện pháp bảo đảm tín dụng nào. NHTM cấp tín dụng cho khách hàng chỉ dựa trên uy tín và khả năng trả nợ của người vay. - Tín dụng có đảm bảo: là hình thức mà bên cho vay yêu cầu bên vay cần đưa ra thông tin về tài sản đang sở hữu hoặc sự bảo lãnh của một bên thứ 3 để chứng minh cho khả năng thanh toán nợ (gốc và lãi) theo cam kết. Những tài sản hoặc sự bảo lãnh mà bên vay thông tin tới bên cho vay được xem là nguồn thu nợ thứ 2 nếu khách hàng không thể hoàn trả được khoản nợ tới hạn.
Mức độ tín nhiệm giúp ngân hàng phân loại tín dụng, đánh giá được chất lượng dữ liệu khách hàng. Tuy nhiên với đặc thù là hoạt động nhiều rủi ro, ngay cả hoạt động cho vay có đảm bảo cũng không thể chắc chắn khả năng thu hồi nợ 100% vì một số trường hợp tài sản đảm bảo không thể xử lý được theo quy định. Do đó, phía ngân hàng cần quản lý danh mục tín dụng theo mức độ tín nhiệm để đánh giá rủi ro của danh mục tín dụng.4 Theo mục đích sử dụng vốn Có nhiều mục đích sử dụng vốn khác nhau nếu phân theo ngành nghề kinh doanh. Tuy nhiên nếu đánh giá dựa trên nhóm khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp có thể chia thành 3 mục đích sử dụng vốn cụ thể như sau: - Bổ sung vốn lưu động: là nhu cầu vay mang tính chất ngắn hạn để bổ sung vốn kinh doanh trong 1 chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng vay liên quan đến hàng tồn kho, trang trải các chi phí sản xuất kinh doanh trong 1 kỳ.
Kết thúc một chu kỳ kinh doanh, khách hàng vay sẽ thu hồi lại vốn lưu động đã bỏ ra. - Đầu tư dự án, mua sắm máy móc thiết bị: đây là nhu cầu vốn mang tính chất trung và dài hạn, phục vụ nhu cầu tài sản mua sắm máy móc thiết bị, thực hiện những dự án có quy mô lớn của khách hàng. Những khoản vay này thường có nhu cầu vốn lớn, cần thời gian trả nợ dài từ nguồn tích lũy của khách hàng vay. - Tiêu dùng: đây là nhu cầu vốn gắn liền với nhóm khách hàng cá nhân.
Vốn vay không được đưa vào sản xuất mà chỉ để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu mua sắm của khách hàng cá nhân. Tùy thuộc vào nhu cầu tiêu dùng và khả năng trả nợ của khách hàng mà thời gian vay có thể linh hoạt khác nhau.