Mở đầu Điều 111 BLTTDS 2015 bắt đầu bằng cụm từ “Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự”, nội hàm của cụm từ này cho ta thấy BPKCTT chỉ được áp dụng trong vụ án dân sự mà không được áp dụng khi giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên dưới góc độ cấu trúc tổng thể Điều 111 được đặt vào Chương VIII, phần thứ nhất tức là phần chung, các quy phạm thường được áp dụng cho tất cả các thủ tục tục giải quyết vụ việc dân sự sau đó. Vấn đề này, tại dự thảo Công văn quán triệt, rút kinh nghiệm việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, TAND tối cao khẳng định “Khi thụ lý giải quyết việc dân sự, không có tranh chấp nhưng Tòa án vẫn ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là không đúng”6. Có thể thấy rằng nội dung giải thích theo Công văn nêu trên của TAND tối cao đã bám sát quy định tại Điều 111 để hướng dẫn việc áp dụng BPKCTT chỉ được thực hiện để giải quyết các tranh chấp bằng vụ án dân sự mà không áp dụng để giải quyết việc dân sự.
Tuy nhiên gần như ngay sau đó TAND tối cao đã ban hành Chỉ thị số 03/2019/CT-CA ngày 30/12/2019 về việc nâng cao chất lượng áp dụng các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự, nội dung của Chỉ thị đã không còn đề cập đến vấn đề có áp dụng BPKCTT trong giải quyết việc dân sự hay không, điều này dường như vẫn còn nhiều quan điểm trái chiều7. Vấn đề nêu trên lại được ghi nhận và khẳng định quan điểm tại khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP như sau: “Tòa án không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết việc dân sự quy định tại Phần thứ sáu của Bộ luật tố tụng dân sự”. Theo tác giả BPKCTT vẫn có thể được Tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết việc dân sự, mặc dù việc dân sự theo lý thuyết là không có tranh chấp nhưng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ pháp luật này không hoàn toàn được bảo vệ một cách tuyệt đối, vẫn có những hành vi xâm phạm làm ảnh hưởng đến quyền và lợi hợp pháp của bên còn lại. Do đó cần quy định rõ ràng hơn về BPKCTT được áp dụng cho cả các trường hợp giải quyết việc dân sự, quy định này giúp cho Thẩm phán mạnh dạn xem xét quyết định áp dụng khi nhận được các yêu cầu của các chủ thể tham gia tố tụng.
6 Dự thảo Công văn quán triệt, rút kinh nghiệm việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của TAND tối cao tháng 12 năm 2019. 7 Chỉ thị số 03/2019/CT-CA ngày 30/12/2019 của Tòa án nhân dân tối cao. 11 Về phạm vi áp dụng BPKCTT. Theo quy định hiện hành Tòa án chỉ áp dụng giải quyết yêu cầu áp dụng BPKCTT phong tỏa tài khoản tại ngân hàng đối với những vụ án có tranh chấp mà không áp dụng đối với việc dân sự.
Như vậy là chưa bảo đảm sự bao quát về bảo toàn tài sản trong khi giải quyết vụ việc dân sự. Kiến nghị 3: Mở rộng phạm vi yêu cầu và giải quyết yêu cầu áp dụng BPKCTT của Tòa án không chỉ giới hạn trong việc giải quyết vụ án dân sự mà còn trong cả giải quyết việc dân sự. Nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác Nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ thuộc về nghĩa vụ chứng minh của đương sự. Khoản 1 Điều 133 BLTTDS 2015 quy định: Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải làm đơn gửi đến Tòa án có thẩm quyền.
Tùy theo yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà người yêu cầu phải cung cấp cho Tòa án chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đó. Đây là một quy định khá chung chung, thiên về việc đánh giá cảm tính hơn là về lý tính. Điều này có thể dẫn đến các trường hợp Thẩm phán mạnh dạn áp dụng hoặc các Thẩm phán dè dặt, e ngại khi áp dụng. Câu hỏi như thế nào là sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, tài liệu, chứng cứ nào chứng minh về việc cần thiết phải áp dụng BPKCTT là vấn đề sẽ nhận được nhiều ý kiến trái chiều.
Sẽ có những đánh giá, nhận định cho rằng việc phong tỏa tài khoản là cần thiết và những nhận định cho rằng không cần thiết. Tuy nhiên những đánh giá đó chưa đủ để có thể ra quyết định áp dụng BPKCTT. Điều 12 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP quy định rằng: Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ chứng minh giá trị tài khoản, tài sản bị phong tỏa. Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của tài liệu liên quan đến việc xác định giá trị tài sản và tài khoản cần phong tỏa.
Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ và quy định pháp luật liên quan để xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Nội dung này bắt buộc người yêu cầu phải cung cấp được chính xác thông tin về số tài khoản ngân hàng, tổ chức tín dụng khác và giá trị số dư của tài khoản ngân hàng đó. Tuy nhiên theo tác giả việc buộc người yêu cầu phải chứng minh giá trị số dư tài khoản, sao kê tài khoản ngân hàng của người bị yêu cầu là một việc làm 12 bất khả thi đối với người yêu cầu, bởi lẽ khoản 3 Điều 14 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi, các giao dịch của khách hàng cho tổ chức, cá nhân khác, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc được sự chấp thuận của khách hàng”. Như vậy trong trường hợp này chỉ có Cơ quan Nhà nước hoặc chủ tài khoản đồng ý thì tổ chức tín dụng mới có quyền cung cấp thông tin tài khoản cho tổ chức, cá nhân khác.
Tác giả cho rằng việc đánh giá sự cần thiết phải áp dụng BPKCTT khi giải quyết yêu cầu sẽ tùy thuộc vào các yếu tố như sau: Về phía người yêu cầu: Họ phải cung cấp được các chứng cứ chứng minh các thiệt hại hoặc nguy cơ chịu thiệt hại tương đối rõ ràng ví dụ như là bị hại trong các vụ án tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đã phải chi trả các khoản tiền thuốc men, viện phí, cứu chữa hoặc họ là bên cho vay trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản hoặc là chủ sở hữu tài sản bị các hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, nghĩa vụ thanh toán xâm phạm đến tài sản hay trong một bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thiệt hại do các hành vi vi phạm nghĩa vụ tương đối rõ ràng của bên vi phạm. Thực tiễn cho thấy, việc yêu cầu người có quyền phải cung cấp tài liệu, chứng cứ như thông tin về số tài khoản, số tiền có trong tài khoản ngân hàng là điều khó có thể thực hiện được nếu người yêu cầu không có được những thông tin xác thực. Đa phần người yêu cầu chỉ có thể cung cấp cho Tòa án thông tin về tên Ngân hàng mà người có nghĩa vụ đã mở tài khoản và yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ, thông tin về tài khoản ngân hàng. Câu hỏi đặt ra là trong trường hợp này, người có quyền có thể yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nêu trên hay không, khi nhận được yêu cầu Tòa án có nghĩa vụ thu thập tài liệu, chứng cứ này hay không.
Dưới góc độ quy định tại khoản 1 và 2 Điều 95 BLTTDS 2015, tác giả cho rằng đương sự hoàn toàn có thể yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến thông tin tài khoản, số dư tài khoản mà đương sự không thể thu thập được. Khi nhận được yêu cầu của đương sự, Tòa án có nghĩa vụ xác minh, thu thập những tài liệu, chứng cứ này để làm căn cứ giải quyết yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên đối chiếu với quy định khoản 1 Điều 133 BLTTDS 2015 và khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP yêu cầu “Người yêu cầu áp dụng biện 13 pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ chứng minh giá trị tài khoản, tài sản bị phong tỏa”. Như đã phân tích, yêu cầu này của điều luật rất khó có thể thực hiện được trong thực tiễn.
Thông tin tài khoản ngân hàng là một trong những bí mật được bảo vệ nghiêm ngặt, việc cung cấp được số tài khoản tên ngân hàng đã khó, yêu cầu phải chứng minh giá trị của tài khoản lại càng khó hơn. Về phía người bị yêu cầu: Người bị yêu cầu áp dụng BPKCTT phải có tài khoản tại ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác, trong tài khoản phải có số tiền có thể bảo đảm việc thực hiện các nghĩa vụ đối với bên có quyền. Về phía Thẩm phán giải quyết vụ án: Phải xem xét, đánh giá các tài liệu chứng cứ, mức độ cần thiết của việc áp dụng BPKCTT để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của bên có nghĩa vụ. Việc yêu cầu đương sự cung cấp thông tin tài khoản ngân hàng của bên bị yêu cầu là điều rất khó, do vậy khi nhận được yêu cầu của bên có quyền, Thẩm phán giải quyết vụ án có thể ra quyết định yêu cầu ngân hàng, tổ chức tín dụng cung cấp thông tin tài khoản của bên có nghĩa vụ.
Xét thấy các thông tin, tài liệu thu thập được đủ để ra quyết định áp dụng BPKCTT thì cần thực hiện một cách nhanh chóng. Kiến nghị hoàn thiện quy định về việc thu thập chứng cứ khi giải quyết yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP quy định khá chặt chẽ về nghĩa vụ cung cấp tài liệu chứng cứ, chứng minh của người yêu cầu áp dụng BPKCTT. Nếu quy định này được áp dụng một cách cứng nhắc, triệt để đối với biện pháp phong tỏa tài khoản tại ngân hàng thì sẽ gây rất nhiều khó khăn, trở ngại cho người có quyền khi họ không thể cung cấp các tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án.