CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Chất lượng dịch vụ 1. Khái niệm chất lượng dịch vụ * Khái niệm dịch vụ Hiện có rất nhiều quan điểm và khái niệm của các học giả trên thế giới về DV, mỗi học giả lại có một cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về DV, phổ biến hiện nay có một số quan niệm sau: - “Theo quan điểm truyền thống: Những gì không phải nuôi trồng, không phải sản xuất là DV. Như vậy, DV bao gồm các lĩnh vực hoạt động như: khách sạn, tiệm ăn, hiệu sửa chữa, giải trí, chăm sóc sức khỏe… - Theo cách hiểu phổ biến: DV là hoạt động mà sản phẩm của nó là vô hình.
Nó giải quyết các mối quan hệ với KH hoặc với tài sản do KH sở hữu mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu. - Theo ISO 8402: DV là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và KH và các hoạt động nội bộ của người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của KH. - Hoặc theo Bách khoa toàn thư mở thì DV được hiểu là những thứ tương tự hàng hóa nhưng phi vật chất, nhằm đáp ứng nhu cầu của KH” [6]. * Chất lượng dịch vụ Đã có rất nhiều nghiên cứu về CLDV.
Do đặc tính của DV vô hình, không đồng nhất, không thể tách rời giữa cung ứng và sử dụng, tính tâm lý, phụ thuộc vào quan hệ con người… nên việc định nghĩa, đo lường CLDV là một điều rất khó khăn. “Chất lượng là những đặc điểm tổng hợp của sản phẩm, DV mà khi sử dụng sẽ làm cho sản phẩm, DV đáp ứng được mong đợi của KH hoặc chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu (Crosby, 1989). 5 CLDV là mức độ mà một DV đáp ứng được yêu cầu của và sự mong đợi của KH (Lewis và Mitchell, 1990; Asubonteng và cộng sự, 1996; Wisniewski và Donnelly, 1996). CLDV chính là do KH cảm nhận khi sử dụng DV và được đánh giá bởi chính KH, có thể hiểu như sau: Nếu cảm nhận lớn hơn kỳ vọng thì KH sẽ thỏa mãn hay nói cách khác là cảm thấy hài lòng và ngược lại, nếu cảm nhận nhỏ hơn kỳ vọng tức là không thỏa mãn hoặc không hài lòng” [2].
CLDV được khái quát là sự thỏa mãn nhất định của KH trong quá trình sử dụng DV, là quá trình tổng thể CCDV cho KH của DN đem lại chuỗi lợi ích và đáp ứng giá trị mong đợi của KH trong công tác sản xuất cung ứng và phân phối DV đầu ra. Đặc điểm của chất lượng dịch vụ - CLDV khó có thể đánh giá và nhận biết bởi người được cung cấp và sử dụng DV. Đối với các sản phẩm, hàng hóa hữu hình có nhiều tiêu chí để có thể đánh giá chất lượng nhưng đối với các DV được cung cấp việc đánh giá trở nên khó khăn do sự tồn tại của các yếu tố hữu hình rất ít. Đa phần trong các quy trình CCDV, yếu tố hữu hình bị giới hạn trong các phương tiện vật chất của nhà cung cấp và nhân viên.
Để đánh giá CLDV, KH căn cứ vào các yếu tố như: giá cả DV, mức độ sẵn sàng của DV, vị trí DV được cung cấp, thái độ của nhân viên… Chính vì vậy, về phía nhà CCDV cũng cảm thấy khó khăn để hiểu được KH của mình đã tiếp nhận DV và đánh giá CLDV đó như thế nào. Nếu làm được điều đó, DN có thể dễ dàng tạo ra những tác động, điều chỉnh quá trình CCDV điều hướng theo mong muốn của KH. - Khái niệm CLDV thể hiện sự đối sánh giữa mong đợi của KH và thực tế DV được cung cấp. Khi CCDV, chúng ta buộc phải đánh giá được sự phù hợp của DV với mong muốn của KH tại một mức độ nào đó.
Quá trình CCDV có nghĩa là hoạt động chuyển giao DV đáp ứng với những mong đợi của KH trên một nền tảng tương thích với mức độ mong đợi. 6 Có thể đánh giá sự thỏa mãn của KH trong quá trình tiếp nhận DV có mối liên hệ chặt chẽ với CLDV. Trong trường hợp CLDV tốt (ở mức rất cao), mức độ thỏa mãn vượt mong đợi, KH sẽ rất hài lòng. Trong trường hợp CLDV cao, mức độ thỏa mãn đạt được sự mong đợi, KH cảm thấy vui vẻ.
Ngược lại, nếu CLDV thấp hơn giá trị mong đợi, KH sẽ thất vọng. Chuỗi giá trị DV KH nhận được do DN cung cấp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: nhân viên CCDV, quá trình CCDV tổng thể, thời gian CCDV, DV của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kiến thức hiểu biết về DV của KH. - CLDV được đánh giá thông qua quá trình CCDV của toàn bộ hệ thống và phương thức phân phối DV đến tay KH chứ không chỉ phụ thuộc vào đánh giá đầu ra với giá trị mong đợi thỏa mãn khách hàng. Vì lý do này, nhiều ý kiến cho rằng có hai loại CLDV được cung cấp: chất lượng kỹ thuật là những giá trị DV KH nhận được từ DN và chất lượng chức năng là cách thức phân phối DV đến KH.
Từ đó, có thể phân tích CLDV ở các khía cạnh: chất lượng vật lý (vật chất) của DV bao gồm cơ sở hạ tầng nhà xưởng, quầy bán hàng, trang thiết bị, dụng cụ…; chất lượng tổ chức (quản trị chất lượng) bao gồm phương thức quản trị điều hành, thương hiệu, uy tín, hình ảnh, lịch sử phát triển công ty…; chất lượng chuyển giao DV bao gồm quá trình giao tiếp để CCDV giữa nhân viên cung cấp và KH. Quản trị chất lượng dịch vụ 1. Khái niệm quản trị chất lượng dịch vụ “Quản trị CLDV có thể được hiểu là hoạt động quản trị nhằm đưa ra các mục tiêu cũng như chính sách về CLDV và thực hiện các mục tiêu, chính sách đó bằng cách tiến hành các hoạt động như cải tiến chất lượng, đảm bảo chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống quản trị chất lượng nào đó” [6]. Quản trị CLDV bao gồm tổng hợp các hoạt động quản trị DV nhằm xác định các mục tiêu, tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng, nội dung, phương pháp và trách nhiệm thực hiện các mục tiêu, tiêu chí và tiêu chuẩn đã xác định bằng 7 các phương tiện thích hợp như lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra chất lượng và điều chỉnh nhằm đảm bảo và cải tiến CLDV trong khuôn khổ một hệ thống quản trị chất lượng xác định với hiệu quả nhất định.
Mục đích của quản trị CLDV là đảm bảo CLDV được cung cấp với hiệu quả cao. Hoạt động CCDV có kế hoạch được xác định trước và được tiến hành tuần tự theo hệ thống quản trị chất lượng nhất định, đáp ứng yêu cầu thỏa mãn các mong muốn về chất lượng của KH (người sử dụng DV). Ngoài ra, cũng như các hoạt động quản trị khác của DN, quản trị CLDV cũng phát sinh chi phí kinh doanh. Quản trị CLDV đem lại kết quả là sự đảm bảo CLDV phù hợp và thỏa mãn yêu cầu của KH, từ đó doanh thu DN tăng lên nhờ KH mua nhiều hơn.
Quản trị CLDV đạt hiệu quả cao sẽ giúp DN giảm chi phí kinh doanh do DV kém chất lượng gây ra. Trong hiện trạng kinh doanh hiện nay, các DN đều xây dựng chức năng quản trị chất lượng riêng biệt của mình. Chức năng quản trị chất lượng của các DN phụ thuộc vào sản phẩm, DV cũng như toàn bộ quá trình CCDV cho KH. Chính vì vậy, công tác quản trị CLDV tại mỗi DN, tổ chức là khác nhau.
Nhưng về cơ bản, theo lý thuyết, các DN cần dựa vào lý luận về năm khoảng cách trên để từ đó đưa ra cách quản trị CLDV phù hợp, đúng đắn và hiệu quả với DN của mình. Vai trò quản trị chất lượng dịch vụ Trong nền kinh tế quốc dân, DV chiếm vị trí ngày càng quan trọng. Theo thống kê, tại các nước phát triển, ngành DV chiếm tới 70% - 80% trong cơ cấu GDP. Có thể nói trong môi trường cạnh tranh toàn cầu, quản trị CLDV có vai trò quan trọng đối với DN, bởi vì quản trị chất lượng tốt vừa có thể làm cho sản phẩm thoả mãn tốt hơn nhu cầu của KH, vừa có thể nâng cao hiệu quả của hoạt động SXKD.
Đây là cơ sở có thể giúp cho DN chiếm lĩnh, mở rộng thị trường, tăng khả năng cạnh tranh về chất lượng, giá cả, đồng thời có thể củng 8 cố và tăng cường vị thế, uy tín của DN trên thị trường. DN có thể xác định đúng hướng điều chỉnh, cải tiến DV phù hợp với sự mong đợi của KH trong quá trình tạo ra và CCDV nếu thực hiện công tác quản trị CLDV tốt. Định hướng nâng cao CLDV, các DN có nhiều hướng đi khác nhau, trong đó có thể tập trung vào cải thiện hoặc sử dụng công nghệ mới hiện đại hơn. Đây là định hướng quan trọng nhưng đòi chi phí đầu tư ban đầu lớn, đặc biệt còn gắn liền với việc quản trị đổi mới máy móc công nghệ không tốt dẫn đến lãng phí nguồn lực.
Thay vào đó, DN có thể cân nhắc phương án nâng cao CLDV bằng việc tiết kiệm chi phí và tăng cường công tác quản trị CLDV. CLDV thông qua quá trình sản xuất, các yếu tố lao động, công nghệ, trang thiết bị, con người kết hợp chặt chẽ theo những hình thức khác nhau sẽ tạo ra những DV với chất lượng khác nhau. Bằng việc tăng cường công tác quản trị CLDV, DN có thể xác định đầu tư đúng hướng, khai thác các nguồn lực của DN hiệu quả hơn. Đặc biệt, kỹ năng mềm, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ của NLĐ trong quá trình CCDV cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cải tiến, nâng cao chất lượng của DV.
Chính vì vậy, công tác quản trị CLDV ngày càng được quan tâm và coi trọng trong các DN. Nội dung quản trị chất lượng dịch vụ Hiện nay nhiều DN gặp khó khăn trong việc làm chủ tiến trình quản trị chất lượng khi quy mô hoạt động ngày càng mở rộng. Một phương thức quản trị có thể giúp các DN giải quyết những khó khăn đó là quản trị theo vòng tròn chất lượng PDCA. Mô hình này được Tiến sĩ Deming phổ biến và được áp dụng rộng rãi trong các DN Nhật Bản vào những năm 50 của thế kỷ XX.
Vòng tròn Deming hoạt động dựa trên Chu trình PDCA cụ thể là Plan (Lập kế hoạch) – Do (Thực hiện) – Check (Kiểm tra) – Act (Cải tiến), bản chất là chu trình cải tiến liên tục để ngày càng đạt được kết quả tốt hơn. Chu trình PDCA cho thấy thực chất của quá trình quản trị chất lượng là sự cải tiến liên tục và không bao giờ ngừng.