MỞ ĐẦU Thành phố Hạ Long là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa của tỉnh Quảng Ninh, một trong những đô thị có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong cả nước. Năm 2012, Tp Hạ Long đã đóng góp cho ngân sách khoảng trên 17.000 tỷ đồng từ dịch vụ hàng hải và cảng biển, chiếm trên 2/3 GDP của toàn tỉnh. Tp Hạ Long và phụ cận có các điều kiện tự nhiên thuận lợi và đa dạng về nguồn tài nguyên thiên nhiên cho phát triển đa ngành, đa nghề, như: khai khoáng, phát triển cảng- hàng hải (cảng Cái Lân), nghề cá, bảo tồn thiên nhiên và du lịch biển. Đặc biệt có vịnh Hạ Long đã từng hai lần được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới về các giá trị cảnh quan (1994) và địa chất-địa mạo (2000).
Năm 2012, vịnh Hạ Long lại được vinh danh thành Kỳ quan Thiên nhiên Thế giới. Với các giá trị toàn cầu như vậy, vịnh Hạ Long ngày càng cuốn hút du khách trong nước và quốc tế với trên hai triệu khách du lịch trong nước và quốc tế hàng năm. Đồng thời các hoạt động du lịch - dịch vụ ở vịnh Hạ Long cũng đóng góp nguồn thu đáng kể cho tỉnh Quảng Ninh hướng tới phát triển một nền kinh tế biển xanh (blue economy) tầm cỡ khu vực và thế giới. Tuy nhiên, các hoạt động kinh tế, khai thác, sử dụng tài nguyên vịnh Hạ Long và vùng lân cận, cùng với quá trình đô thị hóa Tp Hạ Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã khiến cho vịnh Hạ Long đang đối mặt với các vấn đề môi trường ngày càng bức súc, trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng nước vịnh Hạ Long, ảnh hưởng tới mục đích tăng trưởng kinh tế dài hạn và sức khỏe cộng đồng.
Vì vậy, trong khuôn khổ thời gian hạn chế, học viên đã chọn đề tài luận văn thạc sỹ về “Biến động chất lượng nước biển vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2001-2011” để đánh giá một cách tổng thể môi trường vịnh Hạ Long theo không gian và thời gian, qua đó đề xuất một số giải pháp quản lý môi trường biển vịnh Hạ Long hướng tới phát triển bền vững. 6 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VỊNH HẠ LONG 1.1 Điều kiện tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý Theo Quy chế Quản lý vịnh Hạ Long, vịnh Hạ Long là vùng biển đảo nằm ở phía đông bắc Việt Nam, thuộc tỉnh Quảng Ninh, có tọa độ từ 106056’ đến 107037’ và kinh độ đông và 20043’ đến 21009’ vĩ độ bắc.Vịnh có diện tích 1.553km2 bao gồm 1.969 đảo lớn nhỏ, trong đó 90% là đảo đá vôi. Phía tây và tây bắc vịnh Hạ Long kéo dài từ huyện Yên Hưng, qua thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả đến hết phần huyện đảo VânĐồn; phía đông nam và phía nam giáp vịnh Bắc Bộ; phía tây nam và tây giáp đảo Cát Bà (Tp. Hải Phòng).
Vịnh Hạ Long được chia thành 3 khu vực (Hình 1.1): - Khu vực bảo vệ I (bảo vệ tuyệt đối – vùng lõi): vùng này có diện tích 434 km2, bao gồm 775 đảo có giá trị ngoại hạng về cảnh quan và địa chất - địa mạo được UNESCO 2 lần công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới (năm 1994 và năm 2000). Khu di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận (Khu vực bảo vệ I - vùng lõi) được giới hạn bởi 3 điểm: đảo Đầu Gỗ phía tây; hồ Ba Hầm phía nam và đảo Cống Tây phía đông. - Khu vực bảo vệ II (vùng đệm): khu vực bao quanh, liền kề khu vực bảo vệ I, được xác định: Phía bắc dọc theo quốc lộ 18A, kể từ đường vào đảo Tuần Châu (Tp. Hạ Long) đến cây số 11 phường Quang Hanh, thị xã Cẩm Phả, các phía còn lại rộng từ 5 - 7km tính từ đường ranh giới vùng bảo vệ tuyệt đối.1: Vị trí địa lý và các phân vùng trong vịnh Hạ Long.
- Khu vực phụ cận (vùng phụ cận): phần còn lại của vịnh Hạ Long trong vùng bảo vệ quốc gia đã được quy định tại Quyết định số 313-VH/VP của Bộ Văn hóa – Thông tin [2]. Theo đó, khu vực này bao gồm vùng biển và đất liền xác định theo tọa độ từ 106056’ đến 107037’ kinh độ đông và 200 43’ đến 21009’ vĩ độ bắc. Khu vực phụ cận thuộc thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả, huyện Yên Hưng của Quảng Ninh và huyện đảo Cát Hải của Tp. Hải Phòng.2 Khí tượng, thuỷ hải văn Vịnh Hạ Long và lân cận nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa đông lạnh, mùa hè nóng.
Các tháng có lượng mưa nhiều nhất từ tháng 5 đến tháng 9 (mùa mưa) và các tháng có lượng mưa ít nhất từ tháng 10 đến tháng 12 (mùa khô). Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm dao động trong khoảng 200C- 270C. Tổng lượng mưa trung bình hàng năm là 1.685,4 mm và đạt giá trị trung bình tháng cao nhất vào tháng 7 là 390,9 mm, thấp nhất vào tháng 12 là 28,1 mm. Số ngày mưa trung bình trong năm là 118,9 ngày [1].
8 z Hàng năm, vào tháng 6 đến tháng 10, trong vùng thường có lốc, áp thấp nhiệt đới và bão đổ bộ vào. Vùng biển Quảng Ninh mỗi năm trung bình chịu ảnh hưởng của 5 đến 6 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, thường xảy ra vào tháng 8, 9. Tính từ 1954 đến 2001 (47 năm) có tất cả 53 cơn bão đổ bộ vào vùng biển Quảng Ninh. Hệ thống sông ngòi trong vùng có độ dốc khá lớn theo hướng tây bắc và đông bắc chảy trực tiếp vào vịnh Cửa Lục và chảy sang vịnh Hạ Long qua eo Cửa Lục sâu chừng 20m.
Diện tích lưu vực của các con sông chính: Trới, Míp, Man, Vũ Oai, Diễn Vọng và Mông Dương khoảng 2. Mỗi khi có mưa lũ, lượng đất đá bị bào mòn từ vùng đất nông nghiệp, rừng và các khu khai thác than ở vùng núi ven biển theo các dòng chảy sông ra xuống biển, làm gia tăng các chất trong nước, đặc biệt là chất rắn lơ lửng trong vịnh Cửa Lục và vịnh Hạ Long. Sóng ở khu vực ven bờ vịnh Hạ Long có thể chia làm hai mùa, lặng sóng (h<0,5m) chiếm tỷ lệ lớn với tần suất xuất hiện 83-85%. Vào mùa Hè (tháng 5 đến tháng 9) các hướng sóng thịnh hành là hướng nam và tây nam với tổng tần suất xuất hiện khoảng 6-13%, độ cao sóng trung bình đạt 0,4m, lớn nhất có thể đạt trên 2m khi có bão hoặc áp thấp nhiệt đới.
Thời gian lặng sóng chiếm khoảng 84%. Vào mùa Đông (tháng 10 đến tháng 4), các hướng sóng thịnh hành là bắc và đông bắc với tổng tần suất đạt 8-9%, độ cao sóng trung bình đạt khoảng 0,3m, lớn nhất có thể đạt trên 1,5m khi có áp thấp nhiệt đới, thời gian lặng sóng chiếm khoảng 86-88% [11]. Các kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH) đối với nhiệt độ và lượng mưa được xây dựng cho 7 vùng khí hậu của Việt Nam kết hợp số liệu khu vực Đông Bắc Bộ đã cho phép dự báo cho tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010-2015 [12] như sau: - Nhiệt độ không khí: tại Quảng Ninh, theo số liệu quan trắc thực tế từ năm 1961,nhiệt độ đã tăng thêm 1OC và tăng nhanh trong vòng 20 năm trở lại đây.Theo các kịch bản về BĐKH, đến năm 2015 nhiệt độ khu vực có thể tăng thêm 0,5OCso với thời kỳ 1980-1999. Như vậy, nhiệt độ sẽ tiếp tục tăng so với thời kỳ 2005-2010.
9 z - Chế độ mưa: biến động mưa tại Quảng Ninh không rõ nét. Tuy nhiên, theo tài liệu thực đo, tổng lượng mưa năm tăng dần cho đến cuối thập niên 70, sau đó giảm mạnh đến đầu thập niên 90. Từ đầu thập niên 90 đến nay, lượng mưa có xu hướng giảm nhưng không rõ rệt. Đến năm 2015 lượng mưa khu vực đông bắc có thể tăng thêm 1,4% so với thời kỳ 1980-1999.
Như vậy, lượng mưa giai đoạn 2011- 2015 có thể sẽ tăng so với thời kỳ 2005-2010. - Tình hình thuỷ văn: dựa trên các kịch bản nước biển dâng, bản đồ ngập đã được xây dựng cho các tỉnh, thành phố trong đó có tỉnh Quảng Ninh (tỷ lệ 1/2000, 1/5000 và mô hình số độ cao độ phân giải 5 x 5 m của Bộ Tài nguyên và Môi trường).1:Mực nước biển dâng so với thời kỳ 1980-1999 (cm) [12]. Kịch bản Các mốc thời gian của thế kỷ 21 020 030 040 050 060 070 080 090 100 Thấp (B1) 1 7 3 8 5 2 0 7 4 Trung bình (B2) 2 7 3 0 7 6 4 4 4 Cao (A1FI) 2 7 4 3 4 7 1 6 00 BĐKH dẫn đến hiện tượng nước biển dâng, chế độ dòng chảy trong sông của tỉnh Quảng Ninh sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn và thay đổi nhiều. Cụ thể là: về mùa cạn lượng mưa có xu thế giảm dẫn đến mực nước trên các sông suối vùng không chịu ảnh hưởng của thủy triều sẽ giảm dần, ngược lại về mùa mưa bão lượng mưa có xu thế tăng dòng chảy cũng tăng lên, lũ lụt sẽ xảy ra nhiều hơn, thời gian xuất hiện lũ muộn hơn (thời gian trung bình mùa mưa lũ ở tỉnh Quảng Ninh từ ngày 16/4 đến ngày 15/10) và diễn biến rất phức tạp.
Khu vực vùng cửa sông chịu ảnh hưởng nặng nề hơn nhiều so với khu vực không chịu ảnh hưởng của thủy triều. Cùng với ngập lụt là sự gia tăng xâm nhập mặn vào sâu đất vùng ven biển thông qua hệ thống cửa sông (có nơi vào sâu cách bờ biển đến 45 km). Độ mặn đã không ngừng tăng lên trong những năm gần đây, nước biển không ngừng dâng cao. Trữ lượng nước ngầm tại đây ngày càng cạn kiệt, chất lượng thấp nên không thể khai thác quy mô lớn.
10 z Đồng thời nguồn nước mặt ngày càng bị đẩy sâu về thượng lưu. Tình trạng này đã làm thay đổi chất lượng nước tưới tiêu và sinh hoạt của nhân dân vùng ven biển.Tỉnh Quảng Ninh với 10/14 địa phương có biển sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề của những hậu quả do BĐKH đã nêu trên.3 Địa chất-địa mạo Khu vực ven biển vịnh Hạ Long và lân cận khá phong phú về nguồn tài nguyên khoáng sản, như than đá (chiếm trên 90% trữ lượng cả nước), đá vôi, sét pyrophylit, cát thủy tinh, đá granit, nước khoáng, nước nóng thiên nhiên,…Than, đá vôi, sét chất lượng cao làm gốm sứ phân bố tập trung và được khai thác ở Đông Triều, Uông Bí, Hoành Bồ, Tp. Hạ Long và thị xã Cẩm Phả.