đặt vấn đề cần tới khoa học như một giải pháp tạo động lực cho sự phát triển thì nhiều người trong họ, khoa học dường như là khoa học kỹ thuật và công nghệ, còn KHXH &NV vẫn không mấy ai hình dung thấy với tất cả sự cần thiết, hệ trọng, cơ bản và lâu dài. Tình trạng đó dẫn tới một hệ quả là người ta coi nhẹ KHXH & NV. Bằng chứng là về phương diện quản lý Nhà nước thông qua các Sở Khoa học và Công nghệ, việc quan tâm đến KHXH & NV rất ít, nhiều lúc rơi vào hình thức, chiếu lệ, vừa cũ kĩ về nội dung nghiên cứu và nông cạn về chất lượng, nhất là các công trình nghiên cứu KHXH & NV ở các địa phương ít có những phát hiện thực sự khoa học. Phần nhiều rơi vào hình thức hóa và chính trị hóa.
Cũng cần nhận thấy rằng, sự thiếu hụt của những tác động KHXH & NV trong quá trình phát triển vùng. Trước mắt và lâu dài cần tạo ra bước đột phá về nghiên cứu KHXH & NV vùng Nam Bộ góp phần vào việc phát triển vùng. Trong bối cảnh nói trên, xuất phát từ nhu cầu phát triển ĐBSCL, nhất là những vấn đề xã hội phát sinh trong quá trình phát triển, đề tài của chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào sự phát triển của KHXH & NV cũng như đề xuất một số kiến nghị trên cơ sở nghiên cứu vào việc phát triển vùng. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 4 Hoàng Chí Bảo.
4 Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và tác động của nó đến phương thức mưu sinh của người nông dân; phân tích tình trạng và những nguyên nhân rủi ro trong quá trình chuyển dịch đó; nghiên cứu biến đổi xã hội (phân tầng xã hội và quan hệ xã hội qua các mô hình kinh tế) trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, qua đó phát hiện những đặc điểm bản chất của người nông dân thể hiện qua sự tương tác giữa các quan hệ xã hội và lợi ích kinh tế và những giá trị văn hóa trong điều kiện của nền kinh tế thị trường có nhiều biến động. Những vấn đề rộng lớn hơn như cơ cấu xã hội giai cấp và cơ cấu xã hội nghề nghiệp chưa có điều kiện nghiên cứu sâu kỹ trong đề tài này. Mục tiêu cụ thể là: 1. Phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tác động đến hoạt động mưu sinh của người nông dân qua các mô hình kinh tế và thực trạng của sự rủi ro và các nhân tố gây nên sự rủi ro trong hoạt động kinh tế, tác động đến thu nhập và đời sống người dân.
Tìm hiểu sự phân tầng xã hội trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong các nhóm xã hội của các hộ nông dân trong mối tương quan với các mô hình kinh tế. Tìm hiểu các mối quan hệ xã hội trong hoạt động kinh tế qua các mô hình kinh tế trong quá trình sản xuất từ trong gia đình, xã hội để nhận diện vốn xã hội và mạng lưới xã hội ở nông thôn hiện nay. Từ việc nghiên cứu mối quan hệ giữa kinh tế với xã hội đề tài hướng tới tìm hiểu bản chất của người nông dân và các đặc điểm của họ khi đóng vai trò như một tác nhân kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Từ kết quả nghiên cứu đề xuất những khuyến nghị đối với những nhà hoạch định chính sách cho sự phát triển kinh tế xã hội nông thôn ĐBSCL - 5 một vùng đóng vai trò quan trọng nhất cho sự phát triển nông nghiệp của cả nước.
Nâng cao năng lực cán bộ giảng dạy và nghiên cứu cả về lý luận và phương pháp nghiên cứu với phương châm “Đào tạo kết hợp với nghiên cứu”, trong đó ưu tiên cho một luận án tiến sĩ, một luận văn thạc sĩ, một khóa luận tốt nghiệp tham gia các mảng quan trọng của đề tài. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của nông dân vùng ĐBSCL với các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế kể từ sau công cuộc Đổi mới cho đến hiện nay. Đối tượng khảo sát là các hộ nông dân trong các thôn ấp giai đoạn sau khi chuyển đổi sang các mô hình kinh tế điển hình, cụ thể như: đa canh, chuyên canh cây ăn trái, màu, lúa cao sản, nuôi trồng thủy sản cá, tôm…. Xem xét các dạng thức và bản chất của các mối quan hệ xã hội trong hoạt động kinh tế.
Do điều kiện và năng lực có hạn, đề tài chủ yếu khảo sát kinh tế hộ gia đình còn các loại hình kinh tế khác chưa có điều kiện quan tâm. Không gian nghiên cứu: Đề tài chọn hướng nghiên cứu trường hợp (case study) để khảo sát sâu về vấn đề nghiên cứu ở các thôn ấp ở các địa phương tiêu biểu như tỉnh An Giang, Cần Thơ, Cà Mau, nơi có đã chuyển dịch theo các mô hình kinh tế nhanh và mạnh so với các tỉnh khác. Ưu điểm của hướng tiếp cận nghiên cứu trường hợp là phần nào khắc phục được tính chủ quan, tư biện của các nghiên cứu KHXH để tìm các cứ liệu cụ thể mang tính thực chứng trên cơ sở các giả thiết nghiên cứu được thiết kế có chủ đích. Đề tài tiếp cận nghiên cứu vấn đề theo điểm nghiên cứu điển hình để minh chứng cho những xu hướng chung mang tính khái quát qua so sánh đối chiếu sắc thái riêng trong xu hướng chung.
Các điểm nghiên cứu là các đơn vị xã, ấp của cộng đồng cư dân nông nghiệp có sự cư 6 trú khá lâu đời, có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo các mô hình chuyển dịch đã được lựa chọn. TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và những rủi ro trong sản xuất và những biến đổi xã hội trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở ĐBSCL là vấn đề mới được quan tâm trong thời gian gần đây, đặc biệt là sau công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986 do Đảng Cộng sản Việt Nam đề xướng và lãnh đạo. Các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài không có nhiều, chủ yếu là những công trình lý thuyết và phương pháp tiếp cận cũng như những công trình nghiên cứu so sánh ở các nước Đông Á và Đông Nam Á có những nét tương đồng với Việt Nam. Đối với các học giả Việt Nam nghiên cứu về vấn đề này ít nhiều được đề cập dưới góc độ chuyên ngành của kinh tế học, xã hội học và sự phối hợp liên ngành cũng đã được đề cập.
Tiếp cận nghiên cứu vấn đề này về Nhân học còn chưa được quan tâm đúng mức, mặc dù đó đây đã có những công trình và bài báo nghiên cứu. Nhìn chung, cho tới hiện nay, những vấn đề nghiên cứu của đề tài đã được đề cập trong các công trình chuyên luận, các bài báo, các hội thảo khoa học, nhưng chưa có một công trình nào dành riêng cho sự nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này. Ngoài nước Nghiên cứu những biến đổi xã hội của nông dân người Việt trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở ĐBSCL ở nước ngoài không nhiều. Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu là các công trình lý thuyết về Nhân học kinh tế, Nhân học xã hội và Nhân học sinh thái nhân văn như là những cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu vấn đề.
Đó là các công trình: “Richard Wilk, 1996. Economic and Culture: Foundation of Economic Anthropology” trình bày về bản chất hành vi kinh tế của con người; “LeClair, 7 Edward E. 1968, Economic Anthropology: Reading in Theory and Analisis” phân tích hoạt động kinh tế nông nghiệp theo cách tiếp cận của nhân học; “Stuart Plattner, 1999. Economic Anthropology” nghiên cứu về hành vi kinh tế, thị trường và thương mại phục vụ nông nghiệp, vấn đề phát triển nông nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa, nghèo đói; “Susana Narotzky, 1997.
New Direction in Economic Anthropology” tìm hiểu mối quan hệ giữa con người và môi trường thể hiện qua phương thức mưu sinh; “Robert Hefner, 1998. Market Culture: Society and Morality in the New Asian Capitalism” nghiên cứu những mối quan hệ xã hội và hoạt động kinh tế khi xem xét quan hệ xã hội là một thành tố của văn hóa và coi văn hóa và xã hội gắn liền với chính trị và kinh tế, chứ không phải là lĩnh vực xã hội tự do. Công trình của “Timothy and Hy V. Culture and Economy: The Shaping of Capitalism in Eastern Asia” tìm hiểu mối quan hệ hai chiều giữa văn hóa và kinh tế trong việc hình thành chủ nghĩa tư bản ở Đông Á.
Nghiên cứu trực tiếp về đời sống xã hội trong bối cảnh làng nông thôn Nam Bộ trong mối quan hệ kinh tế chính trị và văn hóa về các phương diện thân tộc, nhóm gia đình, cộng đồng được thể hiện trong công trình được nhiều người biết đến như “Gerald C. Nghiên cứu một cộng động thôn xã Việt Nam - Xã hội học. Cuốn sách “Edited by Philip Taylor, 2004. Social Inequality in Vietnam and the Challenges to Reform” tập hợp nhiều bài báo của các học giả nước ngoài và trong nước nghiên cứu về chính sách, sự cải cách kinh tế, sự đa dạng trong phát triển vùng, các nguồn vốn con người, chính sách đất đai và tình trạng nghèo đói, trong đó có đề cập đến vùng ĐSCL.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài về đề tài này không nhiều, ở đây chúng tôi chủ yếu sử dụng những công trình nghiên cứu mang tính lý thuyết để vận dụng vào việc nghiên cứu. 8 Trong nước Các công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam về vấn đề này được đề cập trong các lĩnh vực của kinh tế học, xã hội học và nhân học. Công trình của Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường, 1999, Văn hóa và cư dân ĐBSCL tiếp cận nghiên cứu nghề trồng lúa nước như sự thích nghi sinh thái với môi trường tại đây với các điều kiện thuận lợi của điều kiện địa lý tự nhiên. Trần Xuân Kiêm, 1992, Nghề nông Nam Bộ là công trình miêu tả toàn bộ hoạt động nông nghiệp truyền thống về các phương diện công cụ, kỹ thuật của nghề nông trồng lúa nước, cây ăn trái, cây công nghiệp, chăn nuôi.