Tổng quan luận án

Công trình khoa học "Thực hiện pháp luật về bảo vệ trẻ em ở Việt Nam hiện nay" được tác giả Lã Văn Bằng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Ngọc Ánh, bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2019, thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật (Mã số: 62 38 01 01).

  • Tính cấp thiết của đề tài: Bảo vệ trẻ em (BVTE) là một trong bốn nhóm quyền cơ bản được ghi nhận trong Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (CRC) năm 1989. Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước này. Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hệ thống pháp luật về BVTE từng bước được hoàn thiện, đặc biệt là sự ra đời của Luật Trẻ em năm 2016 với một chương riêng về BVTE. Mặc dù công tác quản lý và nhận thức xã hội đã có chuyển biến tích cực, thực tiễn thực hiện pháp luật (THPL) về BVTE vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: trung bình mỗi năm cơ quan chức năng phát hiện và xử lý khoảng 2.000 vụ trẻ em bị bạo lực, xâm hại (trong đó xâm hại tình dục chiếm trên 60%); tình hình mua bán, bắt cóc, lạm dụng lao động trẻ em diễn biến phức tạp; sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, gia đình và xã hội còn thiếu đồng bộ; nguồn lực đầu tư cho hệ thống BVTE chưa tương xứng.
  • Khoảng trống nghiên cứu: Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về quyền trẻ em hoặc từng nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (HCĐB), song chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp, toàn diện và có hệ thống về THPL về BVTE dưới góc độ khoa học chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, đặc biệt là việc tiếp cận THPL theo mô hình bảo vệ 3 cấp độ (phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp) sau khi Hiến pháp 2013 và Luật Trẻ em 2016 có hiệu lực.
  • Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn THPL về BVTE, luận án đề xuất các quan điểm cơ bản và hệ thống giải pháp nhằm bảo đảm THPL về BVTE có hiệu quả ở Việt Nam.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu và đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án; xác định những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu.
    2. Nghiên cứu, phân tích làm rõ cơ sở lý luận về BVTE và THPL về BVTE (khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung điều chỉnh pháp luật, hình thức và các điều kiện bảo đảm THPL về BVTE).
    3. Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình THPL về BVTE ở Việt Nam hiện nay; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong việc THPL về BVTE.
    4. Đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm THPL về BVTE ở Việt Nam trong thời gian tới.
  • Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu:
    • Giả thuyết 1 (Về lý luận): Cần làm sáng tỏ khái niệm pháp luật về BVTE, THPL về BVTE, đặc điểm, vai trò, nội dung điều chỉnh, hình thức và điều kiện bảo đảm.
      • Câu hỏi 1.1: Quan niệm như thế nào về pháp luật BVTE và THPL về BVTE?
      • Câu hỏi 1.2: THPL về BVTE có những đặc điểm, vai trò như thế nào? Pháp luật điều chỉnh về BVTE có những nội dung gì? THPL về BVTE bằng những hình thức nào? Cần phải có những điều kiện gì để bảo đảm THPL về BVTE?
    • Giả thuyết 2 (Về thực tiễn): Quá trình phát triển pháp luật và thực trạng THPL về BVTE ở Việt Nam cần được tổng kết để làm rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
      • Câu hỏi 2.1: Quá trình phát triển của pháp luật về BVTE ở Việt Nam trong thời gian qua diễn ra như thế nào?
      • Câu hỏi 2.2: Thực trạng THPL về BVTE ở Việt Nam hiện nay như thế nào? THPL về BVTE có những ưu điểm và hạn chế gì? Nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế đó?
    • Giả thuyết 3 (Về quan điểm và giải pháp): Cần xác lập căn cứ khoa học cho các định hướng và giải pháp thực thi.
      • Câu hỏi 3.1: Bảo đảm THPL về BVTE ở Việt Nam hiện nay cần xuất phát từ những quan điểm mang tính nguyên tắc nào?
      • Câu hỏi 3.2: Cần có những giải pháp gì để bảo đảm THPL về BVTE ở Việt Nam có hiệu quả trong thời gian tới?
  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận và thực tiễn THPL về BVTE ở Việt Nam hiện nay dưới góc độ khoa học của chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian: Phạm vi nghiên cứu trên toàn quốc, có sự phân vùng các đơn vị hành chính - lãnh thổ bảo đảm tính đại diện vùng miền và những địa bàn có nhiều vụ việc vi phạm nổi cộm.
    • Về thời gian: Tập trung nghiên cứu, đánh giá tình hình THPL về BVTE với số liệu chủ yếu trong 5 năm (giai đoạn 2013–2018).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật và phân loại khối lượng lớn các tài liệu khoa học trong và ngoài nước theo 2 nhóm vấn đề chính:

1. Các công trình nghiên cứu trong nước

  • Nhóm nghiên cứu về vấn đề bảo vệ trẻ em:
    • Đề tài nghiên cứu của Trần Thị Thanh Thanh (2010) về xây dựng và triển khai chiến lược bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (BVCSGDTE).
    • Đề tài của Đặng Hoa Nam về xây dựng mô hình mạng lưới BVTE và người chưa thành niên dựa vào cộng đồng.
    • Các công trình của Nguyễn Hải Hữu về lao động trẻ em, hoàn thiện hệ thống BVTE và xây dựng bộ chỉ tiêu theo dõi, đánh giá thực hiện quyền trẻ em (gồm 11 chỉ tiêu về BVTE).
    • Các luận án tiến sĩ: Tăng Thị Thu Trang (2014) về quyền trẻ em có HCĐB; Phạm Thị Hải Hà về quản lý nhà nước đối với việc bảo vệ quyền trẻ em; Nguyễn Thị Minh Nhâm về vai trò của truyền thông đại chúng trong thực hiện quyền trẻ em tại tỉnh Bình Phước.
    • Các báo cáo rà soát của Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em; tài liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) phối hợp Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF); báo cáo đánh giá 3 năm thực hiện Quyết định 19/2004/QĐ-TTg của Viện Gia đình và Giới; bài viết của Tô Đức về nguyên nhân trẻ em rơi vào HCĐB.
  • Nhóm nghiên cứu về pháp luật và thực hiện pháp luật về bảo vệ trẻ em:
    • Sách chuyên khảo của Nguyễn Minh Đoan về thực hiện và áp dụng pháp luật; Nguyễn Văn Mạnh về lý luận và thực tiễn THPL.
    • Công trình của Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người, Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính (Bộ Tư pháp) phối hợp UNICEF về quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam.
    • Các bài viết, tham luận của Cục Con nuôi (Bộ Tư pháp), Phan Thị Lan Phương (lao động trẻ em), Lê Thu Hà (dự báo trẻ em có HCĐB), Đỗ Thị Ngọc Phương (vai trò giám sát của Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam), Dorothea Czarnecki (đánh giá năng lực BVTE trên môi trường mạng của UNICEF và Bộ LĐTBXH).
    • Các luận án, luận văn: Vũ Thị Thu Quyên về pháp luật quyền của người chưa thành niên phạm tội; Đỗ Thị Thơm về hoàn thiện pháp luật về quyền trẻ em; Lê Thị Nga về bảo vệ quyền trẻ em bằng hệ thống tư pháp hình sự.

2. Các công trình nghiên cứu của nước ngoài

  • Nhóm nghiên cứu về vấn đề bảo vệ trẻ em:
    • Christian Salazar Volkmann với nghiên cứu phương thức lập chương trình dựa trên cơ sở quyền con người cho phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam;
    • Tài liệu của UNICEF về biến nguyên tắc quyền trẻ em thành hành động và báo cáo phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam;
    • Báo cáo khảo sát trẻ em đường phố tại Hà Nội, Thanh Hóa, Hưng Yên của Tim Bond;
    • Báo cáo đánh giá dự án ngăn ngừa người chưa thành niên vi phạm pháp luật của Tổ chức Plan Việt Nam.
  • Nhóm nghiên cứu về pháp luật và thực hiện pháp luật:
    • Sách và bài báo quốc tế: Sandy Ruxton (Implementing children’s right), Judit Ennew (Street children and child labor), Sinkareva E. (quyền trẻ em trong giáo dục), Ziurina A.L (Removing brutal treatment of children in the family), Samuel Davis (Children’s rights under the law), Jean A. Pardeck (Children’s Rights: Policy and Practice), Wendy Herumin (Child Labor Today), Marian Brandon, Gillian Schofield, Liz Trinder (Social work with children), Quốc Đạt (mô hình cơ quan CPS bảo vệ trẻ em tại Mỹ), Báo cáo toàn cầu năm 2017 của UNICEF (A familiar face: Violence in the lives of children and adolescents với 7 chiến lược INSPIRE).
    • Kinh nghiệm các nước: Australia, Thụy Điển, Phần Lan, Liên bang Nga, Hồng Kông về phát triển nghề công tác xã hội chuyên nghiệp, tòa án gia đình và trẻ em, tư pháp thân thiện.

3. Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

  • Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận quyền trẻ em nói chung hoặc phân tích từng nhóm trẻ em biệt lập (trẻ em có HCĐB, trẻ em đường phố, lao động trẻ em, người chưa thành niên phạm tội), chưa có công trình nào nghiên cứu THPL về BVTE như một đối tượng nghiên cứu độc lập, toàn diện dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
  • Chưa có công trình làm rõ việc THPL về BVTE theo mô hình 3 cấp độ (phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp) được quy định thống nhất trong Luật Trẻ em năm 2016 và Hiến pháp năm 2013.
  • Cần cập nhật hệ thống số liệu, dẫn liệu thực tiễn và đánh giá tác động của khung pháp luật mới trong giai đoạn 2013–2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm

  • Hệ tư tưởng và quan điểm chỉ đạo: Luận án dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, chiến lược phát triển con người, bảo vệ quyền con người và quyền công dân.
  • Khái niệm trẻ em: Luận án xác định đối tượng "trẻ em" là người dưới 18 tuổi nhằm bảo đảm tính tương thích với Công ước CRC và giải quyết khoảng trống giữa Luật Trẻ em 2016 (quy định dưới 16 tuổi) với các đạo luật khác (Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Lao động 2012 quy định người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi).
  • Khái niệm Bảo vệ trẻ em: Luận án tiếp cận theo định nghĩa của Luật Trẻ em năm 2016: BVTE là việc thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; trợ giúp trẻ em có HCĐB.
  • Khái niệm Pháp luật về bảo vệ trẻ em: Là tổng thể các quy phạm pháp luật trên các lĩnh vực khác nhau do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm bảo đảm trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
  • Khái niệm Thực hiện pháp luật về bảo vệ trẻ em: Là quá trình hoạt động có mục đích để những quy định của pháp luật về BVTE đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, gia đình bảo đảm trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; trợ giúp trẻ em có HCĐB.
  • Mô hình 3 cấp độ bảo vệ trẻ em:
Cấp độ bảo vệ Đối tượng áp dụng Mục tiêu và nội dung chính Chủ thể chịu trách nhiệm chính
Cấp độ 1: Phòng ngừa Cộng đồng, gia đình và mọi trẻ em Nâng cao nhận thức, trang bị kỹ năng, xây dựng môi trường sống an toàn, giảm thiểu nguy cơ xâm hại hoặc rơi vào HCĐB. Toàn xã hội, cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân.
Cấp độ 2: Hỗ trợ Trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi hoặc trẻ em có HCĐB Kịp thời phát hiện, cảnh báo, tư vấn kiến thức, loại bỏ nguy cơ gây tổn hại, tạo lập lại môi trường an toàn. Cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, người chăm sóc, cơ sở cung cấp dịch vụ BVTE.
Cấp độ 3: Can thiệp Trẻ em và gia đình trẻ em bị xâm hại Tiếp nhận thông tin, xác minh, điều tra, ngăn chặn hành vi xâm hại; hỗ trợ y tế, tâm lý, pháp lý, phục hồi và tái hòa nhập. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền: LĐTBXH, Công an, UBND các cấp.
  • Bốn hình thức thực hiện pháp luật: Tuân thủ pháp luật, Chấp hành pháp luật, Sử dụng pháp luật và Áp dụng pháp luật về BVTE.

2. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp hệ thống và phân tích văn bản: Sử dụng trong Chương 1 để khảo cứu, phân loại, đánh giá các công trình khoa học trong và ngoài nước.
  • Phương pháp quy nạp và phân tích lý thuyết: Sử dụng chủ yếu trong Chương 2 để xây dựng định nghĩa, xác định đặc điểm, vai trò, nội dung và các điều kiện bảo đảm THPL về BVTE.
  • Phương pháp thống kê, tổng hợp và so sánh: Sử dụng trong Chương 3 để thu thập, phân tích số liệu thực tế về các vụ xâm hại trẻ em, tỷ lệ tội phạm, công tác xét xử và so sánh kinh nghiệm pháp lý quốc tế (Australia, Thụy Điển, Liên bang Nga, Phần Lan).
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp logic: Sử dụng trong Chương 4 để luận giải và xác lập các quan điểm, nhóm giải pháp hoàn thiện THPL về BVTE.

3. Nguồn dữ liệu

  • Văn bản pháp quy: Hiến pháp 2013, Luật Trẻ em 2016, Luật BVCSGDTE 1991 và 2004, Pháp lệnh 1979, Bộ luật Hình sự 2015/2017, Bộ luật Dân sự 2015, Công ước CRC và các Nghị định thư bổ sung.
  • Báo cáo số liệu chính thức: Báo cáo thống kê của Bộ Công an, Bộ LĐTBXH, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân; Báo cáo quốc gia thực hiện Công ước CRC lần 3, 4, 5, 6; các báo cáo của UNICEF và các tổ chức quốc tế giai đoạn 2013–2018.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến trẻ em, BVTE và THPL về BVTE. Tác giả chỉ ra rằng số lượng nghiên cứu về quyền trẻ em khá phong phú nhưng chủ yếu tiếp cận theo các góc độ hẹp, chưa có công trình nào nghiên cứu THPL về BVTE một cách toàn diện với tư cách là đối tượng nghiên cứu độc lập thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Luận án xác định các khoảng trống khoa học, kế thừa các luận điểm lý thuyết nền tảng và thiết lập 3 giả thuyết cùng hệ thống câu hỏi nghiên cứu làm kim chỉ nam cho toàn bộ đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về bảo vệ trẻ em

Chương 2 xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh về THPL về BVTE:

  • Đặc điểm của THPL về BVTE:
    1. Dựa trên các quy định pháp luật về quyền con người, quyền công dân của trẻ em và các quy định pháp luật chuyên ngành (Luật Trẻ em 2016 quy định 25 nhóm quyền cụ thể).
    2. Do nhiều chủ thể thực hiện theo các trình tự, thủ tục khác nhau tương ứng với 3 cấp độ (phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp).
    3. Thể hiện tính tương thích cao giữa chuẩn mực pháp lý quốc tế (CRC) và pháp luật quốc gia.
  • Vai trò của THPL về BVTE: Góp phần đưa chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước vào thực tiễn; bảo đảm cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh, không bị xâm hại và phân biệt đối xử.
  • Nội dung điều chỉnh và hình thức THPL: Phân tích 4 hình thức thực hiện (tuân thủ, chấp hành, sử dụng, áp dụng pháp luật) gắn với các nhóm quan hệ xã hội về chăm sóc, phòng ngừa, tư pháp thân thiện và hỗ trợ tái hòa nhập.
  • Điều kiện bảo đảm: Bao gồm điều kiện về chính trị, kinh tế - xã hội, hệ thống pháp luật, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực công tác xã hội và cơ sở vật chất.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Đúc kết bài học từ các quốc gia (Australia, Thụy Điển, Phần Lan, Nga, Hồng Kông) về việc chuyên nghiệp hóa nghề công tác xã hội, xây dựng hệ thống tòa án gia đình và trẻ em, thiết lập cơ chế tư pháp thân thiện.

Chương 3: Quá trình phát triển của pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật về bảo vệ trẻ em ở Việt Nam

Chương 3 tập trung phân tích tiến trình lập pháp và đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật:

  • Quá trình phát triển pháp luật về BVTE:
    • Giai đoạn trước năm 1990: Pháp lệnh BVCSGDTE năm 1979 quy định độ tuổi trẻ em từ sơ sinh đến 15 tuổi.
    • Giai đoạn 1990–2015: Sau khi phê chuẩn CRC, Quốc hội ban hành Luật BVCSGDTE năm 1991, sau đó là Luật năm 2004, nâng độ tuổi trẻ em lên dưới 16 tuổi và giới hạn là công dân Việt Nam.
    • Giai đoạn từ 2016 đến nay: Luật Trẻ em năm 2016 mở rộng phạm vi áp dụng cho mọi trẻ em dưới 16 tuổi cư trú trên lãnh thổ Việt Nam, thiết lập quy chuẩn BVTE 3 cấp độ.
  • Thực trạng THPL giai đoạn 2013–2018 (qua các số liệu và biểu đồ):
    • Biểu đồ 3.1 & 3.2: Thống kê tình hình xâm hại trẻ em; trung bình phát hiện khoảng 2.000 vụ/năm, trong đó xâm hại tình dục chiếm hơn 60% tổng số vụ, thủ phạm phần lớn là người quen hoặc người thân.
    • Biểu đồ 3.3: Thống kê các vụ việc theo tội danh (năm 2018), ghi nhận sự gia tăng phức tạp của các tội danh giết trẻ em, cố ý gây thương tích, bạo hành học đường, xâm hại tình dục và bóc lột sức lao động.
    • Biểu đồ 3.4: Phân tích số liệu khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án xâm hại trẻ em.
  • Đánh giá thực trạng:
    • Ưu điểm: Thể chế pháp lý ngày càng hoàn thiện; bộ máy quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương được củng cố; mạng lưới cung cấp dịch vụ BVTE từng bước hình thành; nhận thức xã hội được nâng cao.
    • Hạn chế: Ý thức tuân thủ pháp luật của một bộ phận người dân chưa cao; tình trạng sao nhãng, che giấu hành vi xâm hại trong gia đình còn phổ biến; quy trình can thiệp, trợ giúp trẻ em rơi vào HCĐB còn lúng túng, thiếu kịp thời; công tác phối hợp liên ngành chưa chặt chẽ; nguồn lực tài chính và cán bộ chuyên trách công tác xã hội ở cơ sở còn thiếu và yếu.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo vệ trẻ em ở Việt Nam

Chương 4 đề xuất định hướng và các giải pháp đồng bộ:

  • Quan điểm chỉ đạo: Bảo đảm THPL về BVTE phải đặt trong tổng thể chiến lược xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; coi BVTE là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; ưu tiên lợi ích tốt nhất cho trẻ em; tiếp cận dựa trên quyền con người và bảo đảm sự tương thích với chuẩn mực quốc tế.
  • Hệ thống giải pháp cụ thể:
    1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách: Tiếp tục rà soát sửa đổi, đồng bộ hóa các quy định; nghiên cứu nâng độ tuổi trẻ em từ dưới 16 lên dưới 18 tuổi phù hợp CRC; cụ thể hóa quy chuẩn kỹ thuật cho hệ thống bảo vệ 3 cấp độ; tăng nặng chế tài đối với các hành vi xâm hại tình dục và bạo lực trẻ em.
    2. Đổi mới và nâng cao hiệu quả tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật: Đa dạng hóa hình thức truyền thông, trang bị kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ em, nâng cao trách nhiệm của gia đình và nhà trường.
    3. Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực: Chuẩn hóa chức danh nghề công tác xã hội; đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ BVTE cấp cơ sở, cán bộ điều tra, kiểm sát viên và thẩm phán.
    4. Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và xử lý vi phạm: Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, Công an, Giáo dục và Y tế; tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm.
    5. Bảo đảm nguồn lực và cơ sở vật chất: Bố trí ngân sách thỏa đáng, phát triển mạng lưới các trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội trẻ em, hoàn thiện hệ thống đường dây nóng tiếp nhận tố giác.
    6. Mở rộng hợp tác quốc tế: Tăng cường hợp tác song phương và đa phương trong phòng chống tội phạm xuyên quốc gia liên quan đến buôn bán, bóc lột và xâm hại trẻ em trên không gian mạng.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Về mặt lý luận:
    • Xây dựng và chuẩn hóa hệ thống khái niệm: pháp luật về BVTE, THPL về BVTE dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
    • Phân tích làm rõ đặc điểm, vai trò, các hình thức và điều kiện bảo đảm THPL về BVTE; luận giải cơ sở khoa học của mô hình BVTE theo 3 cấp độ (phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp).
    • Làm sáng tỏ tính tương thích giữa pháp luật Việt Nam và chuẩn mực quốc tế (Công ước CRC), đề xuất cơ sở lý luận cho việc thống nhất độ tuổi trẻ em là người dưới 18 tuổi.
  • Về mặt thực tiễn:
    • Khái quát hóa tiến trình lập pháp về BVTE qua các thời kỳ lịch sử từ năm 1979 đến năm 2016.
    • Đánh giá toàn diện, khách quan thực trạng THPL về BVTE ở Việt Nam giai đoạn 2013–2018 thông qua các chỉ số thống kê thực tế về tình hình tội phạm, công tác điều tra, truy tố, xét xử.
    • Chỉ rõ các nguyên nhân cốt lõi dẫn đến hạn chế, vướng mắc trong thực thi pháp luật.
    • Xây dựng hệ thống quan điểm và 6 nhóm giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả THPL về BVTE trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung tiếp cận dưới góc độ khoa học chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, chủ yếu sử dụng nguồn số liệu thống kê thứ cấp trong giai đoạn 2013–2018; chưa đi sâu khảo sát định lượng diện rộng về tâm lý xã hội học pháp luật của từng nhóm đối tượng trẻ em đặc thù.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nghiên cứu thực nghiệm chuyên sâu về cơ chế tư pháp thân thiện đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự và dân sự.
    • Nghiên cứu các giải pháp pháp lý phòng chống xâm hại, bóc lột trẻ em trên không gian mạng và các nền tảng công nghệ số mới.
    • Đánh giá tác động pháp lý và kinh tế - xã hội khi thực hiện nâng độ tuổi trẻ em lên dưới 18 tuổi tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Luận án cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giá trị cho Quốc hội, Chính phủ, Bộ LĐTBXH, Bộ Tư pháp, Bộ Công an và UBND các cấp trong việc rà soát, sửa đổi Luật Trẻ em, hoàn thiện chính sách an sinh xã hội và thiết lập quy chế phối hợp liên ngành trong BVTE.
  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Luật học, Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Quyền con người, Tội phạm học và Công tác xã hội.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Khung lý luận về 3 cấp độ BVTE và 4 hình thức THPL (Chương 2); Hệ thống số liệu thống kê tội phạm xâm hại trẻ em giai đoạn 2013–2018 (Chương 3); Hệ thống 6 giải pháp hoàn thiện THPL (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả luận án quan niệm về độ tuổi trẻ em như thế nào và có sự khác biệt gì với Luật Trẻ em năm 2016?
Trả lời: Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi. Tuy nhiên, trong luận án, tác giả áp dụng thuật ngữ trẻ em cho tất cả những người dưới 18 tuổi. Quan điểm này xuất phát từ việc bảo đảm tính tương thích với Công ước CRC của Liên hợp quốc và sự đồng bộ với các luật hiện hành của Việt Nam (như Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Lao động 2012 quy định người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi), đồng thời đáp ứng đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi thanh thiếu niên (13 đến dưới 18 tuổi) vẫn cần sự chăm sóc, bảo vệ đặc biệt.

2. THPL về BVTE được thực hiện qua các hình thức nào theo lý luận của luận án?
Trả lời: Dựa trên lý luận THPL nói chung, luận án phân tích THPL về BVTE qua 4 hình thức cơ bản: (1) Tuân thủ pháp luật (kiềm chế không thực hiện các hành vi bị cấm như bạo lực, xâm hại trẻ em); (2) Chấp hành pháp luật (thực hiện các nghĩa vụ bắt buộc như chăm sóc, khai sinh, báo cáo hành vi xâm hại); (3) Sử dụng pháp luật (chủ động thực hiện các quyền hợp pháp dành cho trẻ em); (4) Áp dụng pháp luật (hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc can thiệp, xử lý vi phạm và bảo vệ trẻ em).

3. Mô hình BVTE 3 cấp độ được phân định như thế nào trong văn bản?
Trả lời: Mô hình gồm: (1) Cấp độ phòng ngừa (áp dụng cho cộng đồng, gia đình và mọi trẻ em nhằm giáo dục, nâng cao nhận thức, loại bỏ nguy cơ); (2) Cấp độ hỗ trợ (áp dụng cho trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi hoặc trẻ em có HCĐB nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ tổn hại); (3) Cấp độ can thiệp (áp dụng cho trẻ em và gia đình trẻ em bị xâm hại nhằm ngăn chặn, điều tra, hỗ trợ phục hồi và tái hòa nhập).

4. Dữ liệu thực trạng giai đoạn 2013–2018 trong luận án phản ánh tình hình xâm hại trẻ em ra sao?
Trả lời: Báo cáo của Bộ Công an được luận án trích dẫn chỉ ra rằng trung bình mỗi năm phát hiện và xử lý khoảng 2.000 vụ trẻ em bị bạo lực, xâm hại, trong đó trẻ em bị xâm hại tình dục chiếm trên 60%. Các vụ án giết trẻ em, cố ý gây thương tích, bóc lột sức lao động nặng nhọc, mua bán, bắt cóc trẻ em diễn biến phức tạp và thủ phạm xâm hại tình dục phần lớn là người quen biết với nạn nhân.

5. Luận án đề xuất giải pháp trọng tâm nào đối với hệ thống nhân lực BVTE?
Trả lời: Luận án kiến nghị công nhận và chuẩn hóa nghề công tác xã hội chuyên nghiệp tương tự các ngành nghề y tế, giáo dục, luật sư; kiện toàn mạng lưới cán bộ làm công tác BVTE tại cấp xã/phường; thành lập các Trung tâm công tác xã hội trẻ em ở cấp huyện hoặc cụm xã và tăng cường đào tạo kỹ năng tư pháp thân thiện cho cán bộ công an, kiểm sát viên, thẩm phán.


Kết luận

Luận án "Thực hiện pháp luật về bảo vệ trẻ em ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Lã Văn Bằng là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Công trình đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về THPL về BVTE theo mô hình 3 cấp độ, phân tích toàn diện thực trạng thi hành pháp luật tại Việt Nam giai đoạn 2013–2018 và chỉ ra các nguyên nhân hạn chế cốt lõi. Từ nền tảng đó, luận án xác lập hệ thống 6 nhóm giải pháp khả thi, có giá trị khoa học và thực tiễn cao đối với quá trình hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về quyền trẻ em tại Việt Nam.