Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC Vấn đề trẻ em, BVTE và THPL về BVTE là chủ đề được nhiều cơ quan, tổ chức và các nhà khoa học trong nước và quốc tế quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Nhiều công trình khoa học nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến trẻ em, BVTE và THPL về BVTE đã được công bố. Các công trình đó tập trung vào các nhóm vấn đề sau: Nhóm thứ nhất, các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề bảo vệ trẻ em: - Các đề tài nghiên cứu khoa học và sách: + Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng và triển khai thực hiện chiến lược bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đến năm 2010 của Trần Thị Thanh Thanh [91].
Đây là đề tài kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, gắn kết được những nét đặc thù của vấn đề trẻ em ở trong nước với thế giới. Đề tài đã phân tích nhiều vấn đề lý luận từ các khái niệm cơ bản về trẻ em, BVTE; các quan niệm, quan điểm chiến lược về trẻ em, BVTE; cung cấp nhiều tư liệu và phân tích sâu sắc về thực trạng tình hình trẻ em và công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em (BVCSGDTE); làm rõ những thách thức, khó khăn, trở ngại trong thời gian tới. Qua đó xác định rõ các mục tiêu, nội dung, quan điểm chỉ đạo và các giải pháp của chiến lược BVCSGDTE trong giai đoạn tiếp theo. + Xây dựng mô hình mạng lưới bảo vệ trẻ em và người chưa thành niên dựa vào cộng đồng của Đặng Hoa Nam [58].
Đề tài đã phân tích cơ sở lý luận về xây dựng mô hình mạng lưới BVTE và người chưa thành niên dựa vào cộng đồng như: Khái niệm về mô hình mạng lưới BVTE; tính tất yếu, khách luan an 8 quan và xu hướng về BVTE; cấu trúc và phương pháp xây dựng mô hình. Đề tài cũng đã đánh giá thực trạng và phân tích những mô hình BVTE hiện có ở Việt Nam và những vấn đề rút ra để xây dựng và hoàn thiện mô hình. Đồng thời đã nêu một số khuyến nghị để xây dựng và hoàn thiện mô hình mạng lưới BVTE và người chưa thành niên dựa vào cộng đồng, trong đó có phân chia mô hình khu vực nông thôn và đồng bằng. Đề tài cũng có một khuyến nghị riêng về việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách và khai thác nguồn lực BVTE dựa vào cộng đồng.
Đề tài này góp phần định hình phương pháp, cách thức BVTE dựa vào cộng động. + Tình hình lao động trẻ em - thực trạng và giải pháp của Nguyễn Hải Hữu [49]. Nội dung đề tài đã phân tích, đánh giá sâu sắc thực trạng về lao động trẻ em. Kết quả đề tài chỉ ra rằng hệ thống pháp luật đã được triển khai đồng bộ nhưng hiệu lực chưa cao vì thiếu giải pháp phòng ngừa và chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe; việc áp dụng các chính sách, pháp luật không đi kèm các biện pháp kiên quyết, triệt để có thể sẽ làm cho vấn đề trẻ giúp việc bị "chìm" xuống, "ít công khai" hơn.
Từ việc đánh giá, phân tích những nguyên nhân khách quan, chủ quan về vấn đề lao động trẻ em, đề tài đã có một số dự báo về tình hình lao động trẻ em và đưa ra bốn giải pháp cơ bản nhằm phòng ngừa và khắc phục tình trạng lao động trẻ em, trong đó giải pháp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc THPL, chính sách về ngăn ngừa tình trạng lao động trẻ em đã được đặt ra cho các nhà quản lý. + Hoàn thiện hệ thống bảo vệ trẻ em ở Việt Nam của Nguyễn Hải Hữu [50]. Nội dung đề tài đã phân tích khá sâu sắc và toàn diện lý luận về hệ thống BVTE, trong đó đề tài đã đưa ra một số khái niệm, thuật ngữ về trẻ em như: trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, BVTE và các hoạt động BVTE. Đề tài đã đánh giá thực trạng hệ thống BVTE ở Việt Nam, trong đó đánh giá thực trạng về trẻ em có HCĐB và thực trạng cung cấp dịch vụ luan an 9 BVTE.
Đề tài cũng đã đánh giá việc thực hiện chính sách trợ giúp trẻ em ở Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, đề tài cũng rút ra rằng, hệ thống BVTE là một nhiệm vụ rất quan trọng để bảo vệ sự an toàn cho mọi trẻ em. Phát triển hệ thống BVTE là sự thể hiện một cách tiếp cận mới mang tính hệ thống, đồng bộ và toàn diện hơn về BVTE. Chính vì vậy, đề tài đã đưa ra một số định hướng và phương pháp tiếp cận hoàn thiện hệ thống BVTE và năm giải pháp cụ thể về hệ thống BVTE.
Đây là công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo tốt về việc xây dựng hệ thống BVTE theo ba cấp độ; qua đó việc tổ chức THPL về BVTE ở Việt Nam sẽ bảo đảm toàn diện hơn. + Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ tiêu theo dõi, đánh giá thực hiện quyền trẻ em của Nguyễn Hải Hữu [51]. Nội dung đề tài bên cạnh việc phân tích về mặt lý luận về bộ chỉ tiêu theo dõi, giám sát, đánh giá thực hiện quyền trẻ em như các khái niệm, nguyên tắc xây dựng bộ chỉ tiêu,… Đề tài còn đưa ra những kinh nghiệm hay của quốc tế và quốc gia về xây dựng bộ chỉ tiêu. Đề tài cũng đã đánh giá thực trạng về thu thập, sử dụng và chia sẻ thông tin liên quan đến việc thực hiện quyền trẻ em như hệ thống chỉ tiêu quốc gia về trẻ em, hệ thống chỉ tiêu thu thập từ các bộ, ngành,… Qua phân tích, đánh giá thực trạng về bộ chỉ tiêu thực hiện quyền trẻ em, đề tài đã đề xuất một số giải pháp và xây dựng được bộ chỉ tiêu theo dõi, giám sát, đánh giá thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam, trong đó chỉ tiêu về BVTE có 11 chỉ tiêu.
- Luận án tiến sĩ: + Quyền trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay của tác giả Tăng Thị Thu Trang [92]. Về lý luận, luận án đã nghiên cứu về trẻ em có HCĐB và phân tích mối quan hệ, sự cần thiết của việc bảo đảm quyền trẻ em có HCĐB ở nước ta hiện nay. Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quy định và thực hiện pháp luật về quyền trẻ em có HCĐB ở Việt Nam hiện nay, luận án đã nêu ra những luan an 10 quan điểm bảo đảm quyền trẻ em có HCĐB và năm nhóm giải pháp như nâng cao nhận thức về quyền trẻ em có HCĐB; hoàn thiện pháp luật về quyền trẻ em có HCĐB; nâng cao năng lực thực thi, giám sát chính sách về quyền trẻ em có HCĐB; xã hội hóa công tác bảm đảm quyền trẻ em có HCĐB và tiếp tục mở rộng, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong công tác bảo đảm quyền trẻ em có HCĐB. Đây là công trình nghiên cứu có hệ thống về bảo đảm quyền trẻ em có HCĐB - một đối tượng nghiên cứu gồm những trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình, cộng đồng.
Đối tượng nghiên cứu này chỉ là một nhóm trong đối tượng mà đề tài luận án của nghiên cứu sinh đang thực hiện nghiên cứu, đó chính là những đối tượng ở cấp độ ba trong hệ thống BVTE của đề tài. + Quản lý nhà nước về bảo vệ quyền của trẻ em ở Việt Nam của Phạm Thị Hải Hà [42]. Về mặt lý luận, luận án đã đưa ra được quan niệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền của trẻ em là việc Nhà nước thông qua hệ thống luật pháp, chính sách và hệ thống tổ chức các cơ quan quản lý để điều khiển và tác động vào các đối tượng quản lý nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em. Đồng thời, xác định rõ vai trò của quản lý nhà nước về bảo vệ quyền của trẻ em ở Việt Nam; các nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ quyền của trẻ em.
Luận án chỉ ra các hạn chế trong quản lý nhà nước về bảo vệ quyền của trẻ em ở Việt Namvà đề xuất 6 giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền của trẻ em ở Việt Nam, trong đó chú trọng xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch, chiến lược, chương trình hành động thống nhất và đồng bộ về bảo vệ quyền của trẻ em; hoàn thiện và tổ chức chỉ đạo thực hiện nghiêm pháp luật và chính sách về bảo vệ quyền của trẻ em; thường xuyên thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về quyền của trẻ em. luan an 11 + Vai trò của truyền thông đại chúng trong thực hiện quyền trẻ em ở tỉnh Bình Phước hiện nay của tác giả Nguyễn Thị Minh Nhâm [60]. Trên cơ sở tiếp cận, phân tích cơ sở lý luận về vai trò của truyền thông đại chúng trong thực hiện quyền trẻ em, luận án tập trung phân tích thực trạng, những yếu tố tác động và dự báo xu hướng biến đổi về vai trò của truyền thông đại chúng trong thực hiện quyền trẻ em và các giải pháp tăng cường vai trò của truyền thông đại chúng tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em. Luận án là một công trình nghiên cứu có hệ thống về vai trò của truyền thông đại chúng trong thực hiện quyền trẻ em; đối tượng nghiên cứu của luận án cũng hướng tới việc thực hiện quyền của trẻ em.
Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của luận án này khác với đối tượng nghiên cứu mà đề tài luận án tác giả đang nghiên cứu không đề cập đến việc THPL về BVTE. Mặc dù vậy, một số vấn đề lý luận về quyền trẻ em cũng có ý nghĩa tham khảo đối với đề tài nghiên cứu của tác giả. - Các báo cáo, bài báo, tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học + Báo cáo rà soát, đánh giá chính sách, pháp luật của Việt Nam về phòng, chống lạm dụng, xâm hại trẻ em của Ủy ban Dân số, gia đình và trẻ em [103]. Báo cáo này đã phân tích những quy định của pháp luật, chính sách của Việt Nam so sánh sự tương thích với pháp luật quốc tế về phòng, chống mọi hình thức lạm dụng, xâm hại trẻ em; đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật Việt Nam, tạo môi trường pháp lý BVTE.