Bảo Đảm Tiền Vay Bằng Quyền Đòi Nợ Tại Các Tổ Chức Tín Dụng Theo Pháp Luật Việt Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng theo pháp luật Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật dân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2014

94
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG

1.1. Khái niệm, đặc điểm quyền đòi nợ, phân biệt quyền đòi nợ với một số quyền tài sản khác

1.1.1. Khái niệm quyền đòi nợ

1.1.2. Đặc điểm quyền đòi nợ

1.1.3. Phân biệt quyền đòi nợ với một số quyền tài sản khác

1.2. Khái niệm, đặc điểm bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng

1.2.1. Khái niệm bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng

1.2.2. Đặc điểm của bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng

1.2.3. Vai trò của bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM

2.1. Nội dung của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng

2.1.1. Khái quát pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng

2.1.2. Nội dung của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng

2.1.3. Điều kiện, trình tự thủ tục nhận tài sản bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng

2.1.3.1. Các điều kiện khi tổ chức tín dụng nhận quyền đòi nợ làm tài sản bảo đảm tiền vay
2.1.3.2. Trình tự, thủ tục nhận tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng

2.1.4. Phạm vi bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ

2.1.5. Hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng

2.1.5.1. Loại hợp đồng bảo đảm được ký kết. Đối tượng của hợp đồng bảo đảm
2.1.5.2. Nội dung của hợp đồng bảo đảm
2.1.5.3. Các bên chủ thể của hợp đồng bảo đảm. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo đảm
2.1.5.4. Hiệu lực của hợp đồng bảo đảm

2.1.6. Công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm

2.1.7. Quản lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ

2.1.8. Xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ. Phương thức xử lý

2.1.9. Kê biên tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ

2.1.10. Tranh chấp và giải quyết tranh chấp về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM

3.1. Các yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam

3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam

3.3. Một số kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam

3.3.1. Sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam

3.3.2. Có cơ chế đồng bộ nhằm hỗ trợ, hướng dẫn, quản lý và bảo đảm thực hiện trên thực tế bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Bảo Đảm Tiền Vay Bằng Quyền Đòi Nợ

Hoạt động cho vay của Tổ Chức Tín Dụng (TCTD) đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Để đảm bảo an toàn vốn, TCTD thường yêu cầu biện pháp bảo đảm, trong đó có bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ. Tuy nhiên, biện pháp này chưa được áp dụng rộng rãi do các quy định pháp luật còn chung chung và thiếu cụ thể. Các văn bản pháp luật hiện hành quy định khá ít và có phần chung chung về quyền tài sản nói chung cũng như quyền đòi nợ nói riêng. Có thể điểm đến một số văn bản quy định quyền đòi nợ như sau: BLDS năm 2005, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi tắt là Nghị định số 163), Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 11); Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm (sau đây gọi tắt là Nghị định số 83). Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN ngày 06/6/2014 hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 16).

1.1. Định Nghĩa Quyền Đòi Nợ Theo Pháp Luật Việt Nam

Quyền đòi nợ là một loại tài sản theo quy định của BLDS năm 2005. Đây là một tài sản vô hình mà chúng ta không thể nắm giữ trực tiếp. Quyền đòi nợ có tính chất khá đặc biệt vì nó phản ánh việc một nghĩa vụ vừa là một mối quan hệ về mặt pháp luật, đồng thời lại là một loại tài sản. Dưới góc độ của pháp luật về tài sản, quyền đòi nợ là một loại quyền tài sản [24, khoản 1 Ðiều 322] và quyền tài sản lại là một trong bốn loại tài sản theo quy định hiện hành [24, Ðiều 163]. Như vậy, có thể hiểu quyền đòi nợ tự thân nó là một tài sản. Ðối tượng của quyền đòi nợ chính là khoản tiền sẽ được thanh toán vào một thời điểm nhất định.

1.2. Phân Biệt Quyền Đòi Nợ Với Các Quyền Tài Sản Khác

Trong khoa học pháp lý người ta chia quyền tài sản ra ba loại: quyền đối vật hay còn gọi là vật quyền; quyền đối nhân hay còn gọi là trái quyền; quyền sở hữu trí tuệ. Quyền đối vật là quyền cho phép một người được hưởng các quyền năng trực tiếp và ngay lập tức đối với một vật mà không cần vai trò của một người khác. Quyền đối vật chỉ bao gồm hai yếu tố: chủ thể của quyền và vật, đối tượng của quyền. Hay quyền đối vật là quyền trực tiếp trên vật. Còn quyền đối nhân là quyền yêu cầu người có nghĩa vụ phải làm hoặc không làm một việc nào đó. Thông thường, quyền đối nhân phát sinh từ quan hệ hợp đồng nhưng cũng có thể phát sinh do các căn cứ khác do pháp luật quy định.

II. Thực Trạng Pháp Lý Về Thế Chấp Quyền Đòi Nợ Hiện Nay

Pháp luật hiện hành chưa có định nghĩa cụ thể về quyền đòi nợ, gây khó khăn cho các Tổ Chức Tín Dụng trong việc xác định tài sản thế chấp. Nghị định số 163 là văn bản có các quy định riêng cho việc thế chấp quyền đòi nợ (chủ yếu là Điều 22, Điều 59 và Điều 66). Nghị định số 163 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 11. Nghị định số 11 có hiệu lực kể từ ngày 10/4/2012. Tuy vậy, các quy định tại Nghị định số 163 chưa đề cập hết các khía cạnh của loại hình giao dịch bảo đảm có đối tượng là quyền đòi nợ này và phải áp dụng các quy định chung của BLDS và Nghị định số 163 về giao dịch bảo đảm nói chung và về thế chấp tài sản đối với các vấn đề không được xử lý một cách riêng biệt bởi các quy định này.

2.1. Khó Khăn Trong Xác Định Quyền Đòi Nợ Làm Tài Sản Bảo Đảm

Vì pháp luật thực định chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể về quyền đòi nợ, chưa quy định cụ thể các tiêu chí, đặc điểm để nhận biết về quyền đòi nợ, nên các TCTD gặp nhiều khó khăn trong việc xác định quyền đòi nợ để nhận thế chấp. Liệu có phải bất kỳ quyền đòi một khoản tiền phát sinh từ bất kỳ loại hợp đồng nào cũng được coi là quyền đòi nợ và đều được nhận làm tài sản thế chấp, trong khi pháp luật thực định đặt ra cho Bên nhận thế chấp nghĩa vụ chứng minh quyền được đòi nợ đối với bên có nghĩa vụ trả nợ.

2.2. Thiếu Hướng Dẫn Cụ Thể Về Thủ Tục Thế Chấp Quyền Đòi Nợ

Các văn bản luật hiện không đưa ra khái niệm thế nào là “quyền đòi nợ”. Tuy nhiên, theo những phân tích ở trên, có thể rút ra khái niệm sau về Quyền đòi nợ: Quyền đòi nợ là một quyền tài sản có đối tượng là một khoản nợ theo đó nó mang tới cho người sở hữu quyền này có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện một nghĩa vụ tài chính đối với bên có quyền. Quyền đòi nợ là một loại quyền tài sản có đối tượng là một khoản nợ, tức là một khoản tiền.

III. Rủi Ro Tín Dụng Khi Bảo Đảm Tiền Vay Bằng Quyền Đòi Nợ

Việc sử dụng quyền đòi nợ làm tài sản bảo đảm tiềm ẩn nhiều rủi ro tín dụng cho Tổ Chức Tín Dụng. Giá trị của quyền đòi nợ phụ thuộc vào khả năng thanh toán của bên thứ ba (người nợ). Nếu bên thứ ba mất khả năng thanh toán, TCTD có thể không thu hồi được vốn vay. Ngoài ra, việc định giá và xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ cũng phức tạp hơn so với các loại tài sản khác.

3.1. Đánh Giá Khả Năng Thanh Toán Của Bên Thứ Ba Người Nợ

Giá trị của quyền đòi nợ phụ thuộc vào khả năng thanh toán của bên thứ ba (người nợ). Nếu bên thứ ba mất khả năng thanh toán, TCTD có thể không thu hồi được vốn vay. Do đó, việc đánh giá kỹ lưỡng khả năng tài chính của bên thứ ba là vô cùng quan trọng trước khi chấp nhận quyền đòi nợ làm tài sản bảo đảm.

3.2. Khó Khăn Trong Định Giá Và Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm

Việc định giá và xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ cũng phức tạp hơn so với các loại tài sản khác. Cần có quy trình và phương pháp định giá phù hợp để đảm bảo quyền lợi của TCTD. Đồng thời, cần có cơ chế xử lý hiệu quả trong trường hợp bên vay không trả được nợ.

IV. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Bảo Đảm Tiền Vay

Để thúc đẩy việc sử dụng quyền đòi nợ làm tài sản bảo đảm, cần có các giải pháp hoàn thiện pháp luật. Cần có định nghĩa rõ ràng về quyền đòi nợ, quy định cụ thể về thủ tục thế chấp, định giá và xử lý tài sản bảo đảm. Đồng thời, cần tăng cường giám sát và quản lý rủi ro để đảm bảo an toàn cho hệ thống Tổ Chức Tín Dụng.

4.1. Xây Dựng Định Nghĩa Rõ Ràng Về Quyền Đòi Nợ

Cần có định nghĩa rõ ràng về quyền đòi nợ trong các văn bản pháp luật để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thế chấp và xử lý tài sản bảo đảm. Định nghĩa này cần bao gồm các tiêu chí và đặc điểm nhận dạng quyền đòi nợ.

4.2. Quy Định Cụ Thể Về Thủ Tục Thế Chấp Quyền Đòi Nợ

Cần có quy định cụ thể về thủ tục thế chấp quyền đòi nợ, bao gồm các bước thực hiện, hồ sơ cần thiết và trách nhiệm của các bên liên quan. Thủ tục này cần đơn giản, minh bạch và dễ thực hiện.

4.3. Hoàn Thiện Quy Định Về Định Giá Và Xử Lý Tài Sản

Cần có quy định rõ ràng về phương pháp định giá quyền đòi nợ và quy trình xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bên vay không trả được nợ. Quy định này cần đảm bảo quyền lợi của TCTD và bên vay.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Bảo Đảm Tiền Vay Bằng Quyền Đòi Nợ

Mặc dù còn nhiều thách thức, bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ vẫn có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn. Các Tổ Chức Tín Dụng có thể sử dụng biện pháp này để mở rộng danh mục cho vay, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp có nhiều khoản phải thu. Tuy nhiên, cần có sự thận trọng và quản lý rủi ro chặt chẽ.

5.1. Mở Rộng Danh Mục Cho Vay Cho Doanh Nghiệp

Bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ có thể giúp các TCTD mở rộng danh mục cho vay cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có nhiều khoản phải thu. Điều này giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

5.2. Quản Lý Rủi Ro Chặt Chẽ Trong Quá Trình Cho Vay

Việc sử dụng quyền đòi nợ làm tài sản bảo đảm đòi hỏi các TCTD phải có quy trình quản lý rủi ro chặt chẽ. Cần đánh giá kỹ lưỡng khả năng thanh toán của bên thứ ba, định giá chính xác quyền đòi nợ và có cơ chế xử lý hiệu quả trong trường hợp bên vay không trả được nợ.

VI. Tương Lai Của Bảo Đảm Tiền Vay Bằng Quyền Đòi Nợ

Với sự phát triển của thị trường tài chính và sự hoàn thiện của pháp luật, bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ có thể trở thành một biện pháp phổ biến hơn trong tương lai. Sự phát triển của công nghệ tài chính (Fintech) cũng có thể tạo ra các giải pháp mới để quản lý và xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ một cách hiệu quả hơn.

6.1. Sự Phát Triển Của Thị Trường Tài Chính

Sự phát triển của thị trường tài chính sẽ tạo ra nhiều cơ hội hơn cho việc sử dụng quyền đòi nợ làm tài sản bảo đảm. Các TCTD sẽ có nhiều lựa chọn hơn trong việc quản lý rủi ro và mở rộng danh mục cho vay.

6.2. Ứng Dụng Công Nghệ Tài Chính Fintech

Sự phát triển của công nghệ tài chính (Fintech) có thể tạo ra các giải pháp mới để quản lý và xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ một cách hiệu quả hơn. Các công nghệ như blockchain và trí tuệ nhân tạo có thể giúp giảm thiểu rủi ro và tăng tính minh bạch trong quá trình cho vay.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại các tổ chức tín dụng theo pháp luật việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. Khái niệm, đặc điểm quyền đòi nợ, phân biệt quyền đòi nợ với một số quyền tài sản khác 1.1 Khái niệm quyền đòi nợ Quyền dân sự là khả năng pháp luật cho phép chủ thể hưởng một lợi ích vật chất, tinh thần hoặc yêu cầu người khác thực hiện một nghĩa vụ cho mình. Nghĩa vụ của bên kia có thể phải làm một công việc hoặc không được thực hiện một công việc hoặc phải chuyển tài sản… Quyền đòi nợ là một loại tài sản theo quy định của BLDS năm 2005. Đây là một tài sản vô hình mà chúng ta không thể nắm giữ trực tiếp.

Quyền đòi nợ có tính chất khá đặc biệt vì nó phản ánh việc một nghĩa vụ vừa là một mối quan hệ về mặt pháp luật, đồng thời lại là một loại tài sản. Dưới góc độ của pháp luật về tài sản, quyền đòi nợ là một loại quyền tài sản [24, khoản 1 Ðiều 322] và quyền tài sản lại là một trong bốn loại tài sản theo quy định hiện hành [24, Ðiều 163]. Như vậy, có thể hiểu quyền đòi nợ tự thân nó là một tài sản. Ðối tượng của quyền đòi nợ chính là khoản tiền sẽ được thanh toán vào một thời điểm nhất định.

Quyền đòi nợ là một tài sản đặc biệt. Tài sản đó ở dạng vô hình hay nó là một dạng của quyền tài sản. Quyền tài sản có rất nhiều nhưng chỉ những quyền tài sản đáp ứng một số điều kiện nhất định quy định tại Điều 163 BLDS năm 2005 mới trở thành đối tượng trong các giao dịch dân sự. Dưới góc độ kế toán, quyền đòi nợ là một “khoản phải thu”.

Khoản phải thu là bộ phận tài sản của doanh nghiệp đang bị các đơn vị hoặc cá nhân khác chiếm dụng mà doanh nghiệp có trách nhiệm thu hồi. Khoản phải thu có liên quan đến các đối tác có quan hệ kinh tế đối với doanh nghiệp bao gồm 6 z các khoản: khoản phải thu từ khách hàng, khoản ứng trước cho người bán, khoản phải thu nội bộ, khoản tạm ứng cho công nhân viên, các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ, các khoản phải thu khác. Có thể nói nôm na “khoản phải thu” là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa hoặc dịch vụ. Trong lĩnh vực kế toán, có thể nói hầu hết các công ty đều phát sinh các khoản phải thu nhưng với mức độ khác nhau, từ mức không đáng kể cho đến mức không thể kiểm soát nổi.

Kiểm soát khoản phải thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro. Khoản phải thu của doanh nghiệp phát sinh nhiều hay ít phụ thuộc vào các yếu tố như tình hình nền kinh tế, giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm, và chính sách bán chịu của doanh nghiệp. Đứng ở góc độ của pháp luật nghĩa vụ thì quyền đòi nợ là một dạng của quyền yêu cầu quy định tại các điều từ Điều 309 đến Điều 314 của BLDS năm 2005. Đó là quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện một công việc, cụ thể là phải thanh toán một khoản tiền cho bên có quyền tại một thời điểm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

Thời điểm thỏa thuận này có thể là một thời điểm nhất định trong tương lai, nhưng quyền đòi nợ có thể được thanh toán khi bên có quyền yêu cầu hay khi phát sinh một sự kiện tương lai nhất định mà các bên đã thỏa thuận. Bên có quyền chỉ có thể yêu cầu việc thanh toán này từ phía bên có nghĩa vụ chứ không thể yêu cầu một bên thứ ba làm việc này bởi quyền đòi nợ chỉ thiết lập các mối quan hệ giữa bên có quyền và bên có nghĩa vụ mà thôi. Ðiều này minh họa cho tính chất tương đối của quyền đòi nợ. Trong khoa học pháp lý người ta chia quyền tài sản ra ba loại: quyền đối vật hay còn gọi là vật quyền; quyền đối nhân hay còn gọi là trái quyền; quyền sở hữu trí tuệ.

Quyền đối vật là quyền cho phép một người được hưởng các quyền năng trực tiếp và ngay lập tức đối với một vật mà không cần vai trò của một người khác. Quyền đối vật chỉ bao gồm hai yếu tố: chủ thể của quyền và vật, đối tượng của quyền. Hay quyền đối vật là quyền trực tiếp trên vật. Còn quyền đối nhân là quyền yêu cầu người có nghĩa vụ phải làm hoặc không 7 z làm một việc nào đó.

Thông thường, quyền đối nhân phát sinh từ quan hệ hợp đồng nhưng cũng có thể phát sinh do các căn cứ khác do pháp luật quy định. Điều 181 BLDS năm 2005 quy định: “quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự”. Như vậy, theo luật Việt Nam, nếu quan hệ trái quyền có thể tính được thành tiền và chuyển giao được thì trái quyền đó mới là quyền tài sản. Vật quyền và trái quyền có những sự khác biệt cơ bản sau: thứ nhất, vật quyền mang tính chất tuyệt đối theo nghĩa tất cả những người khác trong xã hội có nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền năng của người được hưởng vật quyền, và người này được thực hiện các quyền trực tiếp đối với tài sản.

Trái lại, trong quan hệ trái quyền mang tính chất tương đối, nó chỉ mối quan hệ giữa người có quyền và người có nghĩa vụ và về mặt nguyên tắc, nó chỉ có hiệu lực tương đối giữa hai người này mà thôi. Thứ hai, trong quan hệ vật quyền, người có quyền có thể trực tiếp khai thác tài sản và có quyền đòi lại tài sản dù tài sản đang nằm trong tay ai. Trái lại, trong quan hệ trái quyền, người có quyền chỉ có thể yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ chứ không có quyền cụ thể đối với tài sản này hay tài sản kia của người có nghĩa vụ. Theo quan niệm này thì quyền tài sản tương ứng với trái quyền và quyền đòi nợ là một trái quyền.

Xét về mặt ngôn ngữ, bản thân thuật ngữ quyền đòi nợ tự nó "toát lên" những đặc điểm riêng biệt để nhận biết, trước tiên nó là một quyền, và quyền này là quyền được yêu cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ tài chính đối với mình. Quyền ở đây chính là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Nói một các nôm na thì quyền đòi nợ là một quyền có giá trị tiền tệ nhưng không có đối tượng là một vật hữu hình nào: người có quyền đòi nợ thực hiện quyền của mình bằng cách yêu cầu người mắc nợ thực hiện nghĩa vụ trả nợ và tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ đó dưới hình thức nhận một số tiền. 8 z Pháp luật thực định không đưa ra một định nghĩa cụ thể về quyền đòi nợ.

Trước đây, Thông tư số 04/2007/TT-BTP ngày 17/5/2007 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về hợp đồng mua trả chậm, trả dần, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ đã định nghĩa quyền đòi nợ theo hướng liệt kê gồm quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng vay, hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng dịch vụ hoặc phát sinh từ các căn cứ hợp pháp khác. Song, danh sách này đã bị hủy bỏ bởi Thông tư số 05/2011/TT-BTP của Bộ Tư pháp ngày 16/02/2011 hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án theo phương thức trực tiếp, bưu điện, fax, thư điện tử tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp, nên hiện nay chưa có văn bản nào quy định rõ quyền đòi nợ là gì. Vì pháp luật thực định chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể về quyền đòi nợ, chưa quy định cụ thể các tiêu chí, đặc điểm để nhận biết về quyền đòi nợ, nên các TCTD gặp nhiều khó khăn trong việc xác định quyền đòi nợ để nhận thế chấp. Liệu có phải bất kỳ quyền đòi một khoản tiền phát sinh từ bất kỳ loại hợp đồng nào cũng được coi là quyền đòi nợ và đều được nhận làm tài sản thế chấp, trong khi pháp luật thực định đặt ra cho Bên nhận thế chấp nghĩa vụ chứng minh quyền được đòi nợ đối với bên có nghĩa vụ trả nợ.

Nghị định số 163 là văn bản có các quy định riêng cho việc thế chấp quyền đòi nợ (chủ yếu là Điều 22, Điều 59 và Điều 66). Nghị định số 163 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 11. Nghị định số 11 có hiệu lực kể từ ngày 10/4/2012. Tuy vậy, các quy định tại Nghị định số 163 chưa đề cập hết các khía cạnh của loại hình giao dịch bảo đảm có đối tượng là quyền đòi nợ này và phải áp dụng các quy định chung của BLDS và Nghị định số 163 về giao dịch bảo đảm nói chung và về thế chấp tài sản đối với các vấn đề không được xử lý một cách riêng biệt bởi các quy định này.

9 z Các văn bản luật hiện không đưa ra khái niệm thế nào là “quyền đòi nợ”. Tuy nhiên, theo những phân tích ở trên, có thể rút ra khái niệm sau về Quyền đòi nợ: Quyền đòi nợ là một quyền tài sản có đối tượng là một khoản nợ theo đó nó mang tới cho người sở hữu quyền này có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện một nghĩa vụ tài chính đối với bên có quyền. Quyền đòi nợ là một loại quyền tài sản có đối tượng là một khoản nợ, tức là một khoản tiền. Quyền đòi nợ được liệt kê tại Điều 322 của BLDS năm 2005 như một trong số các quyền tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

Không chỉ là đối tượng của giao dịch bảo đảm, quyền đòi nợ còn được mua, bán theo quy định tại Điều 449 BLDS năm 2005 về mua bán quyền tài sản. Nói chung, cho dù dưới góc độ nào, việc nhận thức chính xác khái niệm về quyền đòi nợ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thiết lập và thực hiện các giao dịch liên quan đến quyền đòi nợ, cũng như trong việc xây dựng quy định pháp luật liên quan đến quyền đòi nợ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Bảo Đảm Tiền Vay Bằng Quyền Đòi Nợ Tại Tổ Chức Tín Dụng Ở Việt Nam cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức bảo đảm tiền vay thông qua quyền đòi nợ trong bối cảnh các tổ chức tín dụng tại Việt Nam. Tài liệu này không chỉ giải thích các quy định pháp lý liên quan mà còn phân tích các lợi ích mà phương thức bảo đảm này mang lại cho cả bên cho vay và bên vay. Đặc biệt, nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch tín dụng, từ đó giúp giảm thiểu rủi ro và tăng cường tính minh bạch trong hoạt động cho vay.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại các tổ chức tín dụng theo pháp luật việt nam. Tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu hơn về các khía cạnh pháp lý và thực tiễn liên quan đến bảo đảm tiền vay, giúp bạn nắm bắt rõ hơn về quy trình và các yếu tố ảnh hưởng đến việc cho vay trong lĩnh vực tín dụng.