BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ BẰNG QUYỀN TÀI SẢN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

Tìm hiểu về bảo đảm nghĩa vụ bằng quyền tài sản tại ngân hàng thương mại Việt Nam. Phân tích pháp luật, thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2024

216
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN TÀI SẢN VÀ BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ BẰNG QUYỀN TÀI SẢN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Khái niệm, phân loại quyền tài sản

1.1.1. Khái niệm quyền tài sản

1.1.2. Phân loại quyền tài sản

1.2. Các loại quyền tài sản được dùng bảo đảm nghĩa vụ tại các ngân hàng thương mại

1.2.1. Quan niệm về quyền tài sản được dùng bảo đảm nghĩa vụ

1.2.2. Các loại quyền tài sản cụ thể được dùng bảo đảm nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam

1.3. Khái niệm bảo đảm nghĩa vụ, bản chất, đặc trưng của bảo đảm nghĩa vụ bằng quyền tài sản trong hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại

1.3.1. Khái niệm bảo đảm nghĩa vụ bằng quyền tài sản tại các ngân hàng thương mại

1.3.2. Bản chất của bảo đảm nghĩa vụ bằng quyền tài sản trong hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại

1.3.3. Đặc trưng của bảo đảm nghĩa vụ bằng quyền tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

1.4. Nghĩa vụ được dùng quyền tài sản để bảo đảm trong hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại

1.5. Các biện pháp bảo đảm và việc đăng ký biện pháp bảo đảm có đối tượng là quyền tài sản trong hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại

1.5.1. Các biện pháp bảo đảm có đối tượng là quyền tài sản trong hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại

1.5.2. Đăng ký biện pháp bảo đảm có đối tượng là quyền tài sản trong hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại

1.6. Mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm bằng quyền tài sản

1.7. Các nguyên tắc bảo đảm nghĩa vụ bằng quyền tài sản trong trong hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại

1.8. Một số nội dung cụ thể trong bảo đảm nghĩa vụ bằng quyền tài sản tại các ngân hàng thương mại

1.8.1. Điều kiện chung của quyền sản tài được dùng bảo đảm nghĩa vụ

1.8.2. Những vấn đề lý luận về xử lý quyền tài sản bảo đảm tại các ngân hàng thương mại

2. CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN ĐỂ QUYỀN TÀI SẢN ĐƯỢC DÙNG BẢO ĐẢM TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1. Thực trạng pháp luật về điều kiện của quyền tài sản dùng để bảo đảm tại các ngân hàng thương mại

2.1.1. Về điều kiện quyền tài sản được dùng bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm

2.1.2. Về điều kiện quyền tài sản được dùng bảo đảm nghĩa vụ có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự

2.1.3. Điều kiện về tính xác định của quyền tài sản được dùng bảo đảm nghĩa vụ tại các ngân hàng thương mại

2.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về điều kiện để quyền tài sản được dùng bảo đảm tại các ngân hàng thương mại

2.2.1. Hoàn thiện quy định về điều kiện quyền tài sản phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm

2.2.2. Hoàn thiện quy định về điều kiện quyền tài sản được dùng bảo đảm phải có thể chuyển giao

2.2.3. Hoàn thiện các quy định liên quan đến tính xác định của quyền tài sản được dùng bảo đảm

2.2.4. Về xác định quyền tài sản bảo đảm hình thành trong tương lai

3. CHƯƠNG 3: XỬ LÝ QUYỀN TÀI SẢN ĐƯỢC DÙNG BẢO ĐẢM TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

3.1. Thực trạng pháp luật về xử lý quyền tài sản bảo đảm tại các ngân hàng thương mại

3.1.1. Căn cứ xử lý quyền tài sản bảo đảm

3.1.2. Thẩm quyền xử lý quyền tài sản bảo đảm

3.1.3. Quyền tài sản được xử lý

3.1.4. Quy trình xử lý quyền tài sản bảo đảm

3.1.5. Xác định thứ tự ưu tiên khi xử lý quyền tài sản bảo đảm

3.1.6. Thứ tự ưu tiên giữa bên nhận bảo đảm với bên thứ ba trong một số trường hợp đặc biệt

3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý quyền tài sản bảo đảm tại các ngân hàng thương mại

3.2.1. Hoàn thiện pháp luật về xác định phạm vi quyền tài sản bảo đảm để xử lý

3.2.2. Hoàn thiện pháp luật về quy trình xử lý quyền tài sản bảo đảm

3.2.3. Hoàn thiện pháp luật về xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý quyền tài sản bảo đảm

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan Bảo đảm nghĩa vụ bằng quyền tài sản Tại sao

Cấp tín dụng là hoạt động cốt lõi của ngân hàng thương mại (NHTM). NHTM thường yêu cầu bên vay dùng tài sản để bảo đảm nghĩa vụ, vừa phòng ngừa rủi ro tín dụng, vừa thúc đẩy tín dụng. Trong nền kinh tế tri thức và cách mạng công nghiệp 4.0, quyền tài sản (QTS) ngày càng đa dạng, tạo ra giá trị mới. Tuy nhiên, nguồn lực này chưa được khai thác hiệu quả, QTS chưa được vốn hóa do NHTM còn dè dặt vì lo ngại rủi ro tín dụng. Hiện nay, tài sản vô hình (QTS) chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản doanh nghiệp. Việc sử dụng tài sản này bảo đảm khoản vay có ý nghĩa quan trọng với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) tại Việt Nam. Cơ chế giúp QTS dễ dàng trở thành tài sản bảo đảm (TSBĐ) sẽ khơi thông nguồn vốn, thúc đẩy kinh tế phát triển. Theo Sách trắng Doanh nghiệp 2021, SME chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, và tài sản của các doanh nghiệp này chủ yếu là QTS.

1.1. Tầm quan trọng của bảo đảm nghĩa vụ bằng quyền tài sản

Việc bảo đảm nghĩa vụ bằng quyền tài sản đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu rủi ro tín dụng cho các ngân hàng thương mại khi cấp tín dụng. Điều này khuyến khích các ngân hàng cung cấp vốn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Việc sử dụng quyền tài sản làm tài sản bảo đảm giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn, từ đó có thể đầu tư vào sản xuất kinh doanh và mở rộng quy mô. Đồng thời, giúp ngân hàng thương mại dễ dàng hơn trong quá trình thu hồi nợ khi các nghĩa vụ không được thực hiện.

1.2. Các loại quyền tài sản tiềm năng trong bảo đảm nghĩa vụ

Quyền tài sản bao gồm nhiều loại hình khác nhau, từ quyền sử dụng đất (QSDĐ), quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), quyền đòi nợ đến phần vốn góp. Mỗi loại quyền tài sản có những đặc điểm và tiềm năng riêng trong việc bảo đảm nghĩa vụ. Ví dụ, quyền sở hữu trí tuệ có thể có giá trị cao nhưng lại chưa được khai thác hiệu quả do các rào cản pháp lý. Việc nhận diện và đánh giá chính xác giá trị của từng loại quyền tài sản là yếu tố then chốt để ngân hàng thương mại quyết định chấp nhận chúng làm tài sản bảo đảm.

II. Thách thức Rủi ro và pháp lý trong bảo đảm nghĩa vụ QTS

QTS có tính đặc thù là vô hình nên việc nhận chúng để bảo đảm nghĩa vụ có nhiều khó khăn và có khả năng dẫn đến rủi ro nếu thiếu cơ chế điều chỉnh hiệu quả. Việc xác định chủ sở hữu, khả năng chuyển giao, đặc biệt là xác định chính xác QTS là đối tượng bảo đảm, là những thách thức lớn. Khi xem xét QTS, NHTM cần tính toán đến khả năng kiểm soát, quản lý, xử lý khi vi phạm nghĩa vụ xảy ra. Các QTS thường liên quan đến chủ thể thứ ba, mỗi loại QTS còn có những đặc trưng riêng biệt, đòi hỏi pháp luật điều chỉnh tương thích. Thực tiễn cho thấy những bất cập liên quan người thứ ba, mối quan hệ lợi ích, sự hợp tác giữa các chủ thể này khi phần vốn góp được sử dụng bảo đảm đang thiếu quy định cụ thể, rõ ràng.

2.1. Khó khăn trong xác định và định giá quyền tài sản

Tính vô hình của quyền tài sản gây ra nhiều khó khăn trong việc xác định và định giá chúng một cách chính xác. Việc xác định chủ sở hữu thực sự của quyền tài sản, đặc biệt là trong các trường hợp có tranh chấp hoặc liên quan đến nhiều bên, có thể tốn nhiều thời gian và chi phí. Hơn nữa, việc định giá quyền tài sản đòi hỏi chuyên môn cao và sự hiểu biết sâu sắc về thị trường, cũng như các yếu tố có thể ảnh hưởng đến giá trị của quyền tài sản đó.

2.2. Vướng mắc pháp lý liên quan đến bên thứ ba

Nhiều quyền tài sản có liên quan đến các chủ thể thứ ba, và điều này có thể gây ra những vướng mắc pháp lý phức tạp trong quá trình bảo đảm nghĩa vụxử lý tài sản bảo đảm. Ví dụ, trong trường hợp quyền đòi nợ được sử dụng làm tài sản bảo đảm, sự hợp tác của bên nợ là rất quan trọng. Nếu bên nợ không hợp tác, việc xử lý tài sản bảo đảm có thể gặp nhiều khó khăn. Tương tự, khi phần vốn góp trong một công ty được sử dụng làm tài sản bảo đảm, cần có sự đồng thuận của các thành viên khác trong công ty.

III. Hoàn thiện pháp luật Điều kiện để quyền tài sản được bảo đảm

Quan sát các NHTM và các bản án, quyết định của các Tòa án trong giải quyết tranh chấp liên quan đến quan hệ bảo đảm có đối tượng là QTS, nhận thấy khá nhiều bất cập, vướng mắc. Quá trình xử lý QTS được dùng bảo đảm gặp khó khăn trong việc truy đòi TSBĐ, định đoạt TSBĐ, xác định phạm vi TSBĐ để xử lý, xác định thứ tự ưu tiên giữa các chủ thể có lợi ích liên quan. Những khó khăn này xuất phát từ việc pháp luật chưa có quy định về quyền truy đòi đủ mạnh, quyền định đoạt của NH đủ mạnh để NH có thể thuận lợi xử lý QTS, những quy định còn thiếu rõ ràng trong xác định phạm vi QTS được dùng bảo đảm để xử lý, đặc biệt khi có sự xuất hiện của các tài sản phái sinh, các quy định về xác định thứ tự ưu tiên chưa đầy đủ và chưa có tính hệ thống. Bên cạnh đó, thực tiễn áp dụng cho thấy các quy định về bảo đảm nghĩa vụ bằng QTS còn nhiều vướng mắc, chưa có sự thống nhất giữa các Tòa án. Nỗ lực hoàn thiện các quy định về giao dịch bảo đảm của Nhà nước là đáng chú ý, đặc biệt gần đây là sự ra đời của NĐ 21/2021/NĐ-CP. Tuy nhiên, quy định về giao dịch bảo đảm vẫn còn hạn chế, chưa có tính hệ thống, và chưa dự liệu đầy đủ đến đặc trưng của các QTS khi xây dựng quy định về bảo đảm nghĩa vụ.

3.1. Điều kiện quyền tài sản phải thuộc quyền sở hữu bên bảo đảm

Một trong những điều kiện quan trọng để quyền tài sản được sử dụng làm tài sản bảo đảm là nó phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm. Điều này đảm bảo rằng bên bảo đảm có đầy đủ quyền định đoạt đối với quyền tài sản đó và có thể chuyển giao nó cho ngân hàng thương mại trong trường hợp cần thiết. Pháp luật cần có quy định rõ ràng và cụ thể về cách xác định quyền sở hữu đối với từng loại quyền tài sản khác nhau, nhằm tránh những tranh chấp và rủi ro có thể phát sinh.

3.2. Điều kiện quyền tài sản có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự

Để quyền tài sản có thể được sử dụng làm tài sản bảo đảm, nó cần phải có khả năng chuyển giao trong các giao dịch dân sự. Điều này có nghĩa là quyền tài sản đó phải có thể được mua bán, cho tặng hoặc chuyển nhượng cho người khác một cách hợp pháp. Khả năng chuyển giao của quyền tài sản giúp ngân hàng thương mại có thể dễ dàng xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Pháp luật cần có quy định rõ ràng về các điều kiện và thủ tục chuyển giao đối với từng loại quyền tài sản.

3.3. Xác định quyền tài sản bảo đảm hình thành trong tương lai

Việc xác định quyền tài sản bảo đảm hình thành trong tương lai cần có quy định rõ ràng để tránh các tranh chấp và rủi ro. Các quy định cần làm rõ cách thức xác định, định giá, và các điều kiện phát sinh của quyền tài sản trong tương lai. Điều này giúp ngân hàng thương mại có cơ sở pháp lý vững chắc để chấp nhận các loại tài sản bảo đảm này.

IV. Xử lý tài sản Quy trình và thứ tự ưu tiên thanh toán bảo đảm

Thực tiễn áp dụng cho thấy các quy định về bảo đảm nghĩa vụ bằng QTS còn nhiều vướng mắc, chưa có sự thống nhất giữa các Tòa án. Những nỗ lực của Nhà nước trong việc hoàn thiện các quy định về giao dịch bảo đảm mặc dù đáng chú ý, đặc biệt gần đây là sự ra đời của NĐ 21/2021/NĐ-CP. Tuy nhiên, quy định về giao dịch bảo đảm vẫn còn hạn chế, chưa có tính hệ thống, và chưa dự liệu đầy đủ đến đặc trưng của các QTS khi xây dựng quy định về bảo đảm nghĩa vụ. Tất cả những điều trên cho phép kết luận rằng, ở góc độ NHTM, sự chưa hoàn hiện của quy định về QTS được sử dụng bảo đảm nghĩa vụ cũng như các quy định liên quan là một trong những nguyên nhân NHTM dè dặt cấp tín dụng nhận bảo đảm bằng QTS. Làm thế nào để tạo ra một khuôn khổ pháp lý nhằm thúc đẩy hơn nữa hoạt động cấp tín dụng có TSBĐ dựa trên QTS và giải quyết những lo ngại của NHTM nhận bảo đảm về rủi ro liên quan đến loại tài sản này? Để tìm kiếm những giải pháp hợp lý, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng trong bảo đảm nghĩa vụ bằng QTS là rất cần thiết.

4.1. Căn cứ pháp lý để xử lý quyền tài sản bảo đảm

Việc xử lý tài sản bảo đảm phải dựa trên các căn cứ pháp lý rõ ràng và hợp lệ. Các căn cứ này có thể bao gồm hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm, quyết định của tòa án hoặc các văn bản pháp lý khác có liên quan. Việc xác định chính xác căn cứ pháp lý là yếu tố then chốt để đảm bảo quá trình xử lý tài sản bảo đảm diễn ra một cách hợp pháp và hiệu quả. Pháp luật cần quy định cụ thể về các căn cứ pháp lý có thể được sử dụng để xử lý tài sản bảo đảm.

4.2. Xác định phạm vi quyền tài sản bảo đảm để xử lý

Việc xác định phạm vi quyền tài sản được sử dụng làm tài sản bảo đảm là rất quan trọng trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm. Phạm vi này cần được xác định rõ ràng trong hợp đồng bảo đảm và phải tương ứng với giá trị của khoản vay. Nếu phạm vi quyền tài sản không được xác định rõ ràng, có thể gây ra những tranh chấp và khó khăn trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm. Pháp luật cần có quy định cụ thể về cách xác định phạm vi quyền tài sản được sử dụng làm tài sản bảo đảm.

4.3. Ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm

Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm cần được xác định rõ ràng trong pháp luật để bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Thông thường, ngân hàng thương mại sẽ được ưu tiên thanh toán trước các chủ nợ khác, nhưng cũng cần có quy định để bảo vệ quyền lợi của người lao động và các chủ nợ khác có liên quan. Pháp luật cần có quy định chi tiết và cụ thể về thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm.

V. Kiến nghị Giải pháp cho bảo đảm bằng quyền tài sản tại NHTM

Sự chưa hoàn thiện của quy định về QTS được sử dụng bảo đảm nghĩa vụ cũng như các quy định liên quan là một trong những nguyên nhân NHTM dè dặt cấp tín dụng nhận bảo đảm bằng QTS. Việc tạo ra một khuôn khổ pháp lý nhằm thúc đẩy hơn nữa hoạt động cấp tín dụng có TSBĐ dựa trên QTS và giải quyết những lo ngại của NHTM nhận bảo đảm về rủi ro liên quan đến loại tài sản này là rất cần thiết. Để tìm kiếm những giải pháp hợp lý, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng trong bảo đảm nghĩa vụ bằng QTS là rất cần thiết.

5.1. Nâng cao nhận thức về giá trị của quyền tài sản

Nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp và ngân hàng thương mại về giá trị tiềm năng của quyền tài sản trong việc bảo đảm nghĩa vụ. Tổ chức các khóa đào tạo, hội thảo để chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm về việc sử dụng quyền tài sản làm tài sản bảo đảm. Khuyến khích các chuyên gia và nhà nghiên cứu thực hiện các nghiên cứu sâu hơn về các loại quyền tài sản và tiềm năng của chúng trong hoạt động tín dụng.

5.2. Hoàn thiện cơ chế định giá và thẩm định quyền tài sản

Phát triển các phương pháp định giá quyền tài sản chính xác và đáng tin cậy. Thiết lập một hệ thống thẩm định quyền tài sản chuyên nghiệp và minh bạch. Tạo điều kiện cho các tổ chức định giá quyền tài sản hoạt động một cách hiệu quả và cạnh tranh. Xây dựng các tiêu chuẩn và quy trình thẩm định quyền tài sản thống nhất để đảm bảo tính khách quan và công bằng.

13/05/2025
Bảo đảm nghĩa vụ bằng quyền tài sản tại các ngân hàng thương mại ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề cần điều 11 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế (tái bản có sửa đổi, bổ sung), Lê Minh Hùng chủ biên, NXB Hồng Đức, Hà Nội, tr. 12 Trần Văn Biên và các tác giả khác (2019), Bảo đảm quyền tài sản trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội. 13 Phan Chí Hiếu và các tác giả khác (2021) “Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản: pháp luật, thực tiễn và kiến nghị”, NXB Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội. 14 Thuỵ Anh, (2006), “Tài sản ảo và phương án “không hành động”, Tạp chí Thế giới điện tử [https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/tai-san-ao-va-phuong-an-khong-hanh-dong-113/] (truy cập ngày 10/7/2018).

11 chỉnh pháp lý đối với tài sản ảo;15 bài viết của tác giả Phạm Văn Toàn16 có đề cập đến tên miền nhưng chủ yếu tập trung vấn đề giải quyết tranh chấp liên quan đến tên miền.2 Ngoài nước Một nghiên cứu của Bell, A., & Parchomovsky, G (năm 2005) với tiêu đề “A theory of property” (dịch: Một học thuyết về tài sản)17, bài viết đề xuất một lý thuyết thống nhất trên cơ sở xem xét đánh giá các lý thuyết thuộc các trường phái khác nhau về tài sản. Theo đó, bài viết chứng minh rằng một lý thuyết được xem là mạch lạc và toàn diện phải giải quyết được bốn câu hỏi: điều gì được bảo vệ bởi pháp luật tài sản? đối với chủ thể nào? Với những quyền lợi gì? Và cơ chế thực thi của pháp luật như thế nào? Bài viết tập trung vào giá trị vốn có của tài sản để giải quyết bốn câu hỏi này. Trong đó, với sự mở rộng của lý thuyết, bài viết cũng đề cập đến sự đáp ứng của pháp luật về tài sản đối với các giao dịch bảo đảm khi được xây dựng theo định hướng giá trị. Harold Demsetz (năm 1967) trong bài viết về “Toward a theory of property rights” (dịch: Hướng đến một học thuyết về QTS)18 đã tìm cách tạo ra một số yếu tố của một lý thuyết kinh tế về QTS.

Bài báo tìm hiểu một số vấn đề như về khái niệm và vai trò của QTS trong hệ thống xã hội; đưa ra một số hướng dẫn để nghiên cứu sự xuất hiện của QTS và tìm hiểu một số nguyên tắc liên quan đến việc kết hợp các QTS thành các nhóm cụ thể và xác định cơ cấu các QTS sẽ được liên kết trong nhóm này. Đây là một nghiên cứu được nhiều tác giả Việt Nam viện dẫn khi nghiên cứu về khái niệm tài sản và QTS trong giai đoạn hiện nay. Bài viết cũng sẽ làm cơ sở cho nghiên cứu sinh khi phân tích về khái niệm QTS trong luận án. Sách của Jacqueline Lipton (năm 2010) về “Internet domain names, trademarks and free speech” (dịch: Tên miền internet, nhãn hiệu và tự do ngôn luận)19 phân tích các tranh chấp liên quan đến tên miền và các yếu tố liên quan.

Tác giả nhấn mạnh rằng bởi vì các tên miền chỉ có thể được đăng ký với một người mỗi lần, chúng không được đăng ký bởi một người khác. Tác giả cho rằng các loại xung đột về tên miền đã không được giải quyết hiệu quả theo các quy định hiện hành, từ đó đưa ra các cải cách quy định có thể có. Quyển sách cho ta biết được rõ những quy định liên quan đến tên miền của pháp luật Mỹ cũng như thực tiễn tranh chấp liên quan đến tên miền ở quốc gia này. Đó là cơ sở để so sánh đối chiếu với các quy định về tên miền ở Việt Nam trong luận án của nghiên cứu sinh.

15 Trương Hồ Hải, “Hoàn thiện quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 liên quan đến công nhận và bảo hộ tài sản ảo ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, [http://www.vn/Hom/Xay-dung-nha-nuoc-phap- quyen/2015/33742/Hoan-thien-quy-dinh-cua-Bo-luat-Dan-su-nam-2015-lien. 16 Phạm Văn Toàn, (2015), “Tên miền và sở hữu trí tuệ”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, (04), tr. 17 Abraham Bell & Gideon Parchomovsky, (2005), “A theory of property”, Cornell Law Review, Vol 90, tr. 18 Harold Demsetz, tlđd (7), tr.

19 Jacqueline Lipton (2010), Internet domain names, trademarks and free speech, Edward Elgar Publishing. 12 Nghiên cứu của Charles Blazer (năm 2006) về “The five indicia of virtual property” (dịch: Năm dấu hiệu của tài sản ảo) 20, bài viết đặt trong khung cảnh nước Mỹ, tác giả trình bày năm dấu hiệu có thể xem xét để xác định tài sản ảo trong thời đại công nghệ thông tin, theo đó các toà án có thể tham khảo để giải quyết các tranh chấp liên quan đến loại tài sản này, trên cơ sở cân nhắc lợi ích của các bên như nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng. Năm dấu hiệu được đề cập đến trong bài viết là sự cạnh tranh, tính lâu dài, kết nối liên thông, thị trường thứ cấp và giá trị gia tăng theo người sử dụng. Các tiêu chí được nêu ra trong bài viết có thể làm cơ sở để nghiên cứu sinh tham khảo, phân tích khi đề xuất về khái niệm về tài sản ảo nói chung, tài sản ảo có thể là TSBĐ nói riêng.

Một nghiên cứu khác như nghiên cứu của tác giả Jeffrey A. Cohen (năm 2005) với tiêu đề “Intangible assets -Valuation and Economic Benefit” (dịch: Giá trị và lợi ích kinh tế của tài sản vô hình)21 đã chỉ ra, mô tả và phân tích các tài sản vô hình của một doanh nghiệp mà thông thường không dễ nhìn thấy và cũng không thể hiện trong số dư của doanh nghiệp. Nghiên cứu là sự kết hợp các yếu tố về luật, kinh tế, tài chính và kế toán để xác định loại tài sản này của doanh nghiệp và qua đó đã đóng góp đầy sáng tạo đối với khái niệm tài sản vô hình.3 Đánh giá Các nghiên cứu về QTS được tiếp cận ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau. Xét dưới góc độ QTS là một loại tài sản, có hai dạng nghiên cứu: một là, thừa nhận mặc nhiên QTS là một loại tài sản trong các loại tài sản dựa theo pháp luật thực định của Việt Nam tại Điều 105 BLDS; hai là, đánh giá cách phân loại tài sản của Việt Nam qua định nghĩa tài sản tại Điều 105 BLDS và kết luận quy định QTS ở Việt Nam không giống nhiều quốc gia trên thế giới, các quốc gia trên thế giới thường phân loại tài sản thành vô hình và hữu hình.

Các nghiên cứu trong nước và ngoài nước cho thấy trong xã hội công nghệ số đã xuất hiện những tài sản trên nền tảng công nghệ, dạng vô hình. Xét về yếu tố kinh tế có thể xem là QTS nhưng sự thừa nhận hay hành lang pháp lý điều chỉnh về các dạng tài sản này ở Việt Nam vẫn còn sơ sài. Chẳng hạn, thiếu các quy định cụ thể về các tài sản ảo nói chung, tiền kỹ thuật số, tên miền trên internet,.4 Nội dung cần tiếp tục nghiên cứu Làm rõ những vấn đề lý luận về QTS như khái niệm, đặc trưng của QTS, qua đó giúp phân biệt QTS và các quyền khác không là QTS, đặc biệt là các quyền mang nội dung kinh tế.2 Các công trình nghiên cứu về bảo đảm nghĩa vụ tại các ngân hàng thương mại 20 Blazer, C., (2006), “The five indicia of virtual property”, Pierce L. Cohen (2005), Intangible assets -Valuation and Economic Benefit, Wiley, New Jersey, Canada.1 Trong nước Bảo đảm nghĩa vụ là một chế định có nguồn gốc từ pháp luật dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự.

Tuy nhiên, khi gắn liền với hoạt động tín dụng NH thì bảo đảm nghĩa vụ còn chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành, tức lĩnh vực NH. Một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về bảo đảm nghĩa vụ trong hoạt động cấp tín dụng của NH có thể kể đến là: Sách “Thị trường vốn nợ, luật và hợp đồng” của Phạm Hồng Năng (năm 2016)22 đã nêu lên mối quan hệ cũng như vai trò của TSBĐ đối với việc cải thiện rủi ro tín dụng NH. Tác giả cũng dành hẳn chương 5 để phân tích về TSBĐ, một số giao dịch bảo đảm cụ thể, hoàn thiện giao dịch bảo đảm, thứ tự ưu tiên và bảo lãnh. Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Xuân Bang (năm 2018): “Pháp Luật về an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng”23.

Nghiên cứu đã chỉ ra thực tiễn mất an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của các NHTM ở Việt Nam trong thời gian gần đây. Từ đó, nghiên cứu cũng khẳng định tầm quan trọng của hoạt động bảo đảm tiền vay và đưa ra một số kiến nghị để khoản vay được an toàn. Luận án tiến sĩ luật học của Lương Khải Ân (năm 2019): “Pháp luật Việt Nam về hợp đồng cho vay trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng”24. Một trong các nội dung là nghiên cứu bảo đảm quyền tiếp cận tín dụng của cộng đồng; tăng cường mức độ an toàn, hạn chế rủi ro phát sinh từ hợp đồng cho vay đối với hệ thống tín dụng ngân hàng.

Ở khía cạnh bảo đảm nghĩa vụ, tác giả cũng phân tích mối quan hệ giữa hợp đồng vay và hợp đồng bảo đảm, cũng như vấn đề xử lý QTSBĐ nhằm hướng tới hạn chế rủi ro tín dụng từ hoạt động cho vay. Luận án tiến sĩ luật học của Trương Thị Tuyết Minh (năm 2022): “Pháp luật về giao dịch bảo đảm bằng động sản tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam”25. Nghiên cứu hướng đến việc tìm kiếm các kiến nghị và giải pháp pháp lý để khai thông hiệu quả chức năng và giá trị kinh tế của TSBĐ là động sản, qua đó bảo vệ quyền lợi của bên nhận bảo đảm là các NHTM trên cơ sở tiếp cận tín dụng NH cho khách hàng, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bên bảo đảm và các chủ thể khác trong mối quan hệ với động sản. Nghiên cứu đã dựa trên các lý thuyết pháp lý và kinh tế, kết hợp phân tích các vấn đề pháp lý liên quan đến bảo đảm nghĩa vụ bằng động sản để đáp ứng cho hướng nghiên cứu trên, gồm các nội dung pháp lý: hiệu lực của giao dịch bảo đảm bằng động sản, về hiệu lực đối kháng, về quyền ưu tiên và xử lý động sản bảo đảm.

22 Phạm Hồng Năng (2016), Thị trường vốn nợ, luật và hợp đồng, NXB Công thương, Hà Nội. 23 Nguyễn Xuân Bang (2018), Pháp Luật về an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. 24 Lương Khải Ân (2019), Pháp luật Việt Nam về hợp đồng cho vay trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ