MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Trong đó cấp tín dụng là hoạt động kinh doanh chính mang lại phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng, đồng nghĩa với việc ngân hàng luôn luôn phải đối mặt với rủi ro tín dụng cao, nguy cơ thất thoát vốn. Nhằm nâng cao tính an toàn của các ngân hàng thương mại trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, từ năm 1975 đến nay, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng đã lần lượt ban hành các phiên bản Hiệp ước Basel I, Basel II và Basel III với các nguyên tắc và chuẩn mực quan lý rủi ro tốt nhất góp phần củng cố hệ thống ngân hàng toàn cầu.
Từ năm 2014, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã lựa chọn 10 ngân hàng để thí điểm triển khai Basel II. Các ngân hàng chủ động thực hiện, triển khai và đến hết năm 2018 đã có 03 ngân hàng thành công trong việc hoàn tất triển khai Basel theo phương pháp tiêu chuẩn. Tuy nhiên, việc triển khai Basel hiện nay cho các ngân hàng thương mại còn lại gặp nhiều khó khăn do chưa có các hướng dẫn triển khai cụ thể từ các cơ quan thẩm quyền cũng như chia sẻ bài học kinh nghiệm triển khai giữa các ngân hàng thương mại. Nghiên cứu này sẽ chia sẻ kinh nghiệm áp dụng các chuẩn mực của hiệp ước Basel trong quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam về xây dựng cấu trúc quản trị, khung quản lý rủi ro hoạt động, thực trạng quản trị rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basel II, lộ trình và giải pháp hoàn thiện quản trị RRTD tại Ngân hàng VCB từ đó đưa ra những đánh giá, những khuyến nghị, đề xuất hữu ích và khả thi không chỉ đối với bản thân các ngân hàng, mà rộng hơn là đối với các cơ quan hữu quan trong việc thực hiện quản lý rủi ro hoạt động theo các yêu cầu của Basel một cách hiệu quả, góp phần vào sự phát triển lớn mạnh của ngành ngân hàng Việt Nam 2.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu e Phan tích, đánh giá thực trạng QTRRTD theo Hiệp ước Basel trong QTRRTD tại Vietcombank. Trong đó nêu rõ những chuẩn mực đã tiệm cận với thông lệ quốc tế và những điều kiện cần phải tiếp tục hoàn thiện để hoàn tất việc áp dụng Basel theo đúng lộ trình của NHNN. e Đề xuất lộ trình và giải pháp hướng đến QTRRTD theo Hiệp ước Basel III tại Vietcombank. e Câu hỏi nghiên cứu: - Thực trạng công tác QTRRTD theo Hiệp ước Basel tại Vietcombank diễn ra như thế nào? Những vấn đề nào cần được quan tâm cải thiện hơn nữa? - Để hoàn thiện công tác QTRRTD theo Hiệp ước Basel, Vietcombank cần triển khai những giải pháp nào là cốt lõi? 3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu e _ Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu QTRRTD theo Hiệp ước Basel tại Vietcombank, hiện tại là các nguyên tắc và chuẩn mực theo Hiệp ước Basel II, dần hướng đến Hiệp ước Basel II. e Pham vi nghiên cứu: luận van tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về quan trị rủi ro tín dụng trên các yêu cầu của Hiệp ước Basel. - Không gian nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu quá trình áp dụng Hiệp ước Basel II vào quản trị rủi ro tín dụng tại VCB, từ đó đề xuất lộ trình và giải pháp hướng đến QTRRTD theo Hiệp ước Basell III. - Thời gian nghiên cứu: từ năm 2018 - 2022 4.
Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp so sánh, thống kê, đối chiếu. Trong đó hệ thống cơ sở lý thuyết, phân tích và tổng hợp nhằm đánh giá mức độ hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại VCB áp dụng theo chuẩn mực của hiệp ước Basel. Đóng góp của nghiên cứu Qua quá trình nghiên cứu luận văn đã nêu lên được tầm quan trọng và sự cần thiết phải áp dụng các chuẩn mực của Hiệp ước Basel vào công tác quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng. Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Vietcombank cần được chú trọng và dần hoàn thiện hơn nữa với vai trò là ngân hàng tiên phong, đúc kết được nhiều bài học kinh nghiệm từ thực tiễn khi triển khai thành công Hiệp ước Basel cho các NHTM khác tại Việt Nam, từ đó tiết kiệm được nguồn lực về chỉ phí tài chính, thời gian và nhân lực, là bước khởi đầu cho việc hoàn tất triển khai Hiệp ước Basel trong toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Kết cấu của đề tài Nội dung nghiên cứu bao gồm 5 chương: e Chuong I: Mo đầu e Chuong II: Tổng quan nghiên cứu e Chuong III: Phương pháp nghiên cứu e Chuong IV: Kết quả nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng theo chuẩn mực Hiệp ước Basel tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam e Chương V: Lộ trình và giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng theo chuẩn mực Hiệp ước Basel tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam. e Kết luận CHƯƠNG II: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE QUAN TRI RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HIỆP ƯỚC VỐN BASEL 2. Tổng quan về quản trị rủi ro tín dụng Quản trị rủi ro tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng và góp phần giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Quản trị rủi ro (RRTD) được hiểu là quá trình nhận diện, phân tích nhân tố rủi ro, đo lường mức độ rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn triển khai các biện pháp và quản lý các hoạt động tín dụng nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro trong quá trình cấp tín dụng.
Khái niệm rủi ro tín dụng Theo nghiên cứu của Joel Bessis: “Rủi ro tín dụng là rủi ro quan trọng nhất trong ngân hàng. Đó là rủi ro đối tác sẽ vi phạm nghĩa vụ trả nợ” (Quản trị rủi ro trong ngân hàng). Theo định nghĩa của Ủy ban Basel: “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận”. Theo Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: “Rui ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện được hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Như vậy có thể hiểu RRTD trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất, thiệt hại về kinh tế do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Phân loại rủi ro tín dụng Hình 2. Phân loại rủi ro tín dụng Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh Căn cứ vào khả năng trả nợ của rủi ro khách hàng N1 N2 N3 ao ° Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro: - Rui ro giao dich (Transaction): La một hình thức của rủi ro tín dung mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính: lo Rủi ro lựa chọn: là rủi ro khi ngân hàng lựa chọn và đánh giá những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
° Rui ro bảo dam: là rủi ro xuất phat từ các tiêu chuẩn dam bảo như: chủ thé dam bao, cách thức đảm bảo, loại tài sản đảm bảo. ° Rui ro nghiệp vu: rủi ro liên quan đến xây dựng và thực hiện chính sách tuyển dụng. - Rủi ro danh mục (Portfolio): là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân là do những hạn chế trong quản lý danh mục tín dụng ngân hàng, bao gồm: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. fo Rui ro nội tai: xuất phat từ các yếu tố mang tính riêng biệt của chính bên đi vay hoặc ngành kinh tế.
° Rủi ro tập trung: là mức dư nợ cho vay được gán cho một số khách hàng, một số ngành kinh tế hoặc một số loại cho vay hoặc một khu vực địa lý. ° Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng: Khả năng trả nợ của khách hàng được đánh giá dựa trên lịch sử tín dụng. CIC sẽ phân khách hàng vào 1 trong 5 nhóm dưới đây: - Nhóm 1: Dư nợ đủ chuẩn. Các khoản nợ được thanh toán trong hạn hoặc nợ quá hạn dưới 10 ngày - Nhóm 2: Dư nợ cần chú ý.
Các khoản nợ quá hạn từ 10 - 90 ngày, các khoản nợ được điều chỉnh lại kỳ hạn thanh toán - Nhóm 3: Dư nợ dưới tiêu chuẩn. Các khoản nợ quá hạn từ 30 - 90 ngày, các khoản nợ được điều chỉnh nhưng quá hạn dưới 30 ngày, các khoản được miễn hoặc giảm lãi do không đủ khả năng trả lãi. - Nhóm 4: Nợ nghi ngờ mất vốn. Các khoản nợ quá hạn từ 90 - 180 ngày, các khoản nợ được điều chỉnh nhưng vẫn quá hạn 30 - 90 ngày, các khoản được điều chỉnh thanh toán lần thứ 2.
- Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn (Nợ xấu). Các khoản nợ quá hạn dưới 180 ngày, các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn nhưng vẫn quá hạn 90 ngày, các khoản được điều chỉnh thanh toán lần thứ 3. Quản trị rủi to tín dụng trong hoạt động ngân hàng 2. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng Quản trị là những hành động được tiến hành bởi các nhà quản trị.
Những hành động này được xuất phát từ nhu cầu, mục tiêu chung và hướng vào việc điều hòa các nguồn lực con người và vật chất sao cho sự hao tổn để đạt các mục đích, mục tiêu nhất định là thấp nhất có thể. Theo Decottignise (1981) “Quản trị rủi ro, đó là dự phòng - với chi phí thấp nhất - các nguồn lực tài chính, cần và đủ tùy theo từng tình huống cụ thể. Đó chính là kiểm soát và loại trừ nếu có thể bằng cách giảm thiểu hay chuyển giao chứng, tối ưu hóa cách thức sử dụng các nguồn lực tài chính doanh nghiệp”.