CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA RỦI RO THANH KOẢN, RỦI RO TÍN DỤNG CŨNG NHƯ TÁC ĐỘNG ĐẾN TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM TỪ NĂM 2008 - 2018 1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại (NHTM) 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại là một trong những định chế tài chính trung gian đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ của xã hội với vai trò chính: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng. Nhờ đó mà nguồn tiền nhàn rỗi được huy động, tập trung và sử dụng để cấp tín dụng cho các tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu.
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại 1. Rủi ro Rủi ro là một khái niệm rất phổ biến, hầu như ai cũng có thể biết đến phạm trù này, nhưng để có một định nghĩa chính xác và đầy đủ nhất thì chưa chắc có một quan điểm thống nhất. Ta có thể hiểu cụ thể như sau: Rủi ro là điều không may mắn, tổn thất, mất mát, thiệt hại, bất trắc ngoài ý muốn trong cuộc sống, quá trình sản xuất, kinh doanh mà chúng ta không chắc chắn có thể xảy ra hoặc không thể lường trước được về khả năng xảy ra khi nào với mức độ nghiêm trọng cũng như hậu quả của nó mang lại. Và khi rủi ro xảy đến đồng nghĩa với việc người tiếp nhận nó phải chịu một sự thiệt hại nhất định.
Rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm. Tuy chúng ta không thể biết trước được rủi ro nhưng nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro mang lại cho mình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng Trong điều kiện cơ chế kinh tế thị trường ảnh hưởng đến tất cả các ngành nghề hoạt động kinh doanh như hiện nay thì hệ thống NHTM cũng không tránh khỏi những tác động gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế nói chung và chính hệ thống Ngân hàng nói riêng.
Như chúng ta đã biết, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng chủ yếu là tiền tệ, một loại hàng hóa rất ngạy cảm với mọi biến động của kinh tế – chính trị – xã hội, chúng có thể gây nên những biến động không thể lường trước được thậm chí có thể làm cho hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng giảm sút một cách trầm trọng. Trong quá trình tồn tại và phát triển, hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng luôn phải đối mặt rất nhiều vấn đề mà đặc biệt nhất là rủi ro. Hầu như không có một dịch vụ, nghiệp vụ nào của Ngân hàng mà không gặp phải rủi ro “tiềm ẩn” xảy ra bất cứ lúc nào, rủi ro có thể đến từ: tín dụng, thanh toán, tiền gửi, đầu tư, ngoại tệ. Do vậy, nhận thức rõ từng loại rủi ro để từ đó đưa ra những biện pháp phòng chống hữu hiệu để hạn chế thấp nhất rủi ro mang lại luôn là vấn đề cần thiết, thường xuyên và liên tục tồn tại song song với hoạt động của Ngân hàng.
Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, rủi ro rất đa dạng, chúng có mối quan hệ khá chặt chẽ và có thể là nguyên nhân và là kết quả cho nhau. Tuy nhiên, luận văn này sẽ chỉ đề cập đến hai loại rủi ro chính có liên quan đến đề tài nghiên cứu mà hầu hết các Ngân hàng thương mại thường gặp phải và mối quan hệ giữa hai loại rủi ro đó cũng như tác động của chúng tới tình hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng như thế nào. Thật vậy, Rủi ro trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng được biết đến như là những biến cố xảy ra ngoài ý muốn, không thể lường trước được trong quá trình kinh doanh gây ảnh hưởng xấu đến sự tồn tại, ổn định và phát triển của Ngân hàng, đặc biệt là tổn thất về tài sản của Ngân hàng khi có phát sinh, làm sụt giảm lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để hoàn thành công việc. Rủi ro này là yếu tố khách quan nên chúng ta không thể nào loại bỏ được mà chỉ có thể sử dụng những hình thức quản trị rủi ro phù hợp mà mỗi một Ngân hàng đề ra để có thể LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hạn chế được các loại rủi ro và những tác hại của chúng gây ra cho hoạt động kinh doanh.
Dựa trên cơ sở lý thuyết và tình hình thực tế, có thể chia rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM thành 4 nhóm rủi ro cơ bản cụ thể như sau: Rủi ro tín dụng: là rủi ro phát sinh trong trường hợp Ngân hàng cấp tín dụng mà Khách hàng vay hoặc đối tác của Ngân hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như đã cam kết thỏa thuận trước đó, Ngân hàng không thể thu được đầy đủ gốc và lãi của các khoản vay hoặc Khách hàng trả nợ không đúng hạn cho Ngân hàng. Rủi ro thanh khoản: là rủi ro phát sinh trong trường hợp Ngân hàng không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu sử dụng vốn khả dụng, mất khả năng thanh toán do không thể chuyển đổi tài sản thành tiền mặt một cách nhanh chóng, tức thì cho Khách hàng hay không thể vay mượn để đáp ứng được nhu cầu của Khách hàng. Tình trạng này nhỏ thì gây thua lỗ, hoạt động kinh doanh đình trệ, nặng thì làm mất khả năng thanh toán và dẫn đến hậu quả nghiêm trọng không thể lường trước cho Ngân hàng nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Rủi ro tỷ giá hối đoái: là rủi ro mà các NHTM phải gánh chịu trong trường hợp nền kinh tế chịu sự biến động của tỷ giá hối đoái theo chiều hướng bất lợi nằm ngoài dự tính của Ngân hàng.
Rủi ro lãi suất: là loại rủi ro xuất hiện khi lãi suất trên thị trường thay đổi ngoài dự kiến gây ra tổn thất cho Ngân hàng. Rủi ro thanh khoản trong hoạt động kinh doanh NHTM 1. Khái niệm Khi nghiên cứu về rủi ro thanh khoản, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau đề cập tới vấn đề này, cụ thể như sau: Theo BIS (2015) cho rằng: “Rủi ro thanh khoản là khả năng Ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời hoặc phải huy động vốn bổ sung với chi phí cao hoặc phải bán tài sản với giá thấp”. Nói một cách khác là “những tổn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 thất xảy ra đối với Ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt mức dự kiến”, hay nói cách khác, “Ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu thanh toán hay rút tiền của khách hàng.
Một khi khả năng thanh toán bị đe dọa, NHTM thường đi vay “nóng” với chi phí rất cao và tìm kiếm nhiều nguồn khác kèm theo đó là những đánh đổi rất lớn hay những quy định ràng buộc ngặt nghèo. Theo Joel Bessis (2011) và Peter S. Rose (2004), “rủi ro thanh khoản hình thành do những thua lỗ liên tiếp và dẫn tới việc Chính phủ hay Ngân hàng Trung ương (NHTW) phải bơm vào những khoản tiền lớn trong các cuộc khủng hoảng tài chính”. Hay theo The management of risk Benton E.Gup cho rằng: “Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro về tổn thất phát sinh từ trạng thái thiếu hụt tiền mặt hoặc tài sản tương đương tiền, hay đặc biệt hơn là rủi ro về tổn thất phát sinh từ trạng thái thiếu khả năng thu xếp được nguồn tài trợ với mức độ hợp lý về chi phí, bán hay thu xếp một tài sản với mức giá trị hợp lý, nhằm trang trải một nghĩa vụ đã được định hoặc bất định”.
Còn với Basel (2008) chỉ ra rằng: “Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà một định chế tài chính không đủ khả năng tìm kiếm đầy đủ nguồn vốn để đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hàng ngày và cũng không tác gây tác động đến tình hình tài chính”. Từ các khái niệm trên, ta có thể kết luận rằng: Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi Ngân hàng không có khả năng đáp ứng đầy đủ tiền mặt cho Khách hàng do nhu cầu sử dụng tiền mặt tức thì hoặc có thể hiểu rằng rủi ro này xuất hiện khi Ngân hàng thiếu khả năng thanh toán bằng tiền mặt do không thể chuyển đổi các loại tài sản thành tiền mặt một cách tức thì hoặc không thể vay mượn từ các Tổ chức tín dụng khác để đáp ứng nhu cầu của Khách hàng. Theo Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng chỉ ra rằng, một trong các nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 - 2009 là vấn đề về thanh khoản, mà phần lớn bị các quốc gia nói chung và các TCTD nói riêng đã bỏ qua trong quá khứ. Cuộc khủng hoảng cũng cho thấy, hầu hết các Ngân hàng đều dựa nhiều vào LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 thị trường tiền tệ ngắn hạn để tài trợ cho các tài sản, dự án hoạt động dài hạn đang có xu hướng bị vấn đề thanh khoản rất lớn.
Ta thấy rằng, nhiệm vụ duy trì thanh khoản đầy đủ là một trong những công việc, tiêu chí hàng đầu của mỗi Ngân hàng. Chính vì vậy, Ngân hàng phải luôn có một lượng vốn khả dụng nhất định trong tay hoặc có thể dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn vay mượn bên ngoài với mức chi phí hợp lý để khi cần đến có thể nhanh chóng bán một số tài sản với mức giá hợp lý nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho Ngân hàng kịp thời. Thiếu hụt thanh khoản là một trong những dấu hiệu nhận biết đầu tiên cho thấy Ngân hàng đang lâm vào tình trạng khó khăn nghiêm trọng, Ngân hàng có thể dần dần mất đi những khoản tiền gửi của khách hàng hiện hữu do hiện tượng rút tiền một cách ồ ạt ngày càng tăng lên, bên cạnh đó, Ngân hàng sẽ gặp khó khăn hơn trong việc huy động các món tiền gửi mới do tâm lý đám đông, e ngại rủi ro của công chúng đối với Ngân hàng. Từ đó, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ngày càng xấu đi nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời và không thể chắc chắn được sự tồn tại của Ngân hàng đó tới khi nào, sớm hay muộn.