Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giữ vị trí huyết mạch trong việc dẫn vốn cho nền kinh tế, cung ứng hơn 70% tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội. Giai đoạn 2006-2016 chứng kiến nhiều biến động phức tạp của kinh tế vĩ mô, từ giai đoạn tăng trưởng nóng với lãi suất huy động có thời điểm vượt mức 18%/năm đến các chu kỳ nới lỏng tiền tệ khi lãi suất chính sách hạ xuống dưới 7%/năm. Vấn đề cốt lõi được đặt ra là khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng thương mại có xu hướng suy giảm rõ rệt từ sau năm 2011, khi tỷ lệ nợ xấu gia tăng và biên lãi ròng bị thu hẹp đáng kể.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là phân tích toàn diện ảnh hưởng phi tuyến của chính sách tiền tệ thông qua hai công cụ đại diện là lãi suất ngắn hạn và độ dốc đường cong lợi suất trái phiếu chính phủ 10 năm đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu dữ liệu gồm 24 ngân hàng thương mại trong suốt chu kỳ 11 năm từ năm 2006 đến năm 2016, tương ứng 264 quan sát thực nghiệm.

Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp bằng chứng định lượng rõ nét về mức độ tác động của cơ cấu lãi suất lên tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA bình quân dao động từ 1,04% đến 1,84%, tỷ lệ thu nhập lãi thuần NIM từ 2,7% đến 3,58%, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi NNIM và dự phòng rủi ro tín dụng PTT. Những kết quả này giúp các nhà hoạch định chính sách tiền tệ và nhà quản trị ngân hàng nhận diện ngưỡng an toàn lãi suất để tối ưu hóa hiệu quả hoạt động tài chính bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết và mô hình thực nghiệm của Borio và cộng sự (2017) công bố trên tạp chí International Finance về tác động phi tuyến của cơ cấu lãi suất đến khả năng sinh lời của các tổ chức tín dụng. Nghiên cứu kết hợp quy tắc lãi suất Taylor (1993) trong việc điều hành chính sách tiền tệ nhằm cân bằng giữa mục tiêu kiềm chế lạm phát thực tế so với lạm phát mục tiêu và ổn định khoảng cách sản lượng GDP thực tế so với GDP tiềm năng. Bên cạnh đó, luận văn kế thừa lý thuyết trung gian tài chính và chuyển hóa tài sản của Flannery (1981) và English (2002), phân tích cơ chế các ngân hàng thương mại tạo ra lợi nhuận thông qua việc nhận tiền gửi ngắn hạn và cấp tín dụng dài hạn.

Khung phân tích tập trung vào 5 khái niệm trọng tâm bao gồm:

  1. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) đo lường hiệu quả sử dụng toàn bộ nguồn lực tài sản;
  2. Tỷ lệ thu nhập lãi thuần cận biên (NIM) phản ánh mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi trên tài sản sinh lời bình quân;
  3. Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi (NNIM) đại diện cho hiệu quả đa dạng hóa từ hoạt động dịch vụ và phi tín dụng;
  4. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (PTT) thể hiện chi phí bù đắp rủi ro danh mục cho vay;
  5. Lãi suất ngắn hạn (STRATE) và độ dốc đường cong lợi suất trái phiếu 10 năm (SYIEDC) đóng vai trò là hai biến số đầu ra đại diện cho tác động tổng hòa của chính sách tiền tệ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng toàn bộ dữ liệu bảng thu thập từ báo cáo tài chính kiểm toán và báo cáo thường niên của 24 ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 11 năm từ năm 2006 đến năm 2016, tạo nên bộ dữ liệu gồm 264 quan sát theo kỳ năm. Phương pháp chọn mẫu được thực hiện bằng việc lọc các ngân hàng thương mại cổ phần có dữ liệu tài chính công bố liên tục, loại trừ các ngân hàng 100% vốn nước ngoài và ngân hàng liên doanh nhằm đảm bảo tính đồng nhất về thể chế hoạt động và môi trường pháp lý tại Việt Nam.

Tác giả sử dụng phần mềm kinh tế lượng Stata 12 và áp dụng phương pháp ước lượng Moment tổng quát hệ thống (System GMM) theo đề xuất của Arellano và Bond (1991) cùng Blundell và Bond (1998). Lý do lựa chọn phương pháp System GMM thay vì mô hình tác động cố định (FEM) hay tác động ngẫu nhiên (REM) truyền thống là vì phương pháp này giải quyết triệt để vấn đề nội sinh phát sinh từ mối liên hệ hai chiều giữa các biến số tài chính, kiểm soát tính trễ của khả năng sinh lời, đồng thời khắc phục hoàn toàn các khuyết tật về hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi thường gặp trong dữ liệu chuỗi tài chính ngân hàng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu xác nhận tồn tại mối quan hệ phi tuyến dạng hình chữ U ngược có ý nghĩa thống kê giữa lãi suất ngắn hạn (STRATE), độ dốc đường cong lợi suất (SYIEDC) với tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM). Khi lãi suất tăng ở giai đoạn đầu, biên lãi ròng của các ngân hàng được mở rộng do hiệu ứng rớt giá tiền gửi cá nhân. Tuy nhiên, khi lãi suất tăng quá cao vượt qua ngưỡng cân bằng như giai đoạn 2008 và 2011 với lãi suất trên 14%/năm, áp lực chi phí huy động vốn tăng vọt khiến NIM bình quân sụt giảm xuống mức 2,7% và ROA trung bình toàn ngành giảm về mức đáy 1,04% vào năm 2008 và 1,16% vào năm 2010.

Thứ hai, mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và tỷ lệ thu nhập ngoài lãi (NNIM) mang dạng hình chữ U thuận. Trong môi trường lãi suất thấp dưới 7%/năm, hoạt động đầu tư chứng khoán và dịch vụ ngân hàng tăng trưởng mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào nguồn thu phi tín dụng. Ngược lại, khi lãi suất thị trường tăng cao, các khoản lỗ danh mục đầu tư chứng khoán và sự suy giảm của hoạt động giao dịch vốn đã làm thu hẹp chỉ số NNIM.

Thứ ba, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (PTT) có mối quan hệ phi tuyến hình chữ U ngược với cơ cấu lãi suất. Khi lãi suất cho vay tăng cao trong giai đoạn 2011-2014, năng lực trả nợ của khách hàng suy giảm khiến nợ xấu bùng phát. Hệ quả là chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tăng mạnh theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN, khiến 8/9 ngân hàng niêm yết có tốc độ tăng trưởng ROA âm trong năm 2012 và 5/9 ngân hàng tiếp tục tăng trưởng âm trong năm 2013.

Thứ tư, tác động tích cực của cơ cấu lãi suất lên thu nhập lãi thuần chiếm ưu thế áp đảo so với tác động tiêu cực lên chi phí dự phòng và thu nhập ngoài lãi, bởi vì hoạt động tín dụng truyền thống vẫn đóng góp hơn 75% tổng thu nhập của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm được minh chứng rõ nét qua các biểu đồ phân tích xu hướng giá trị bình quân giai đoạn 2006-2016, cho thấy sự đồng pha biến động giữa ROA, NIM và PTT với cơ cấu lãi suất. Kết quả này hoàn toàn nhất quán với nghiên cứu thực nghiệm của Borio và cộng sự (2017) trên bình diện quốc tế và Alessandri và cộng sự (2015) tại thị trường tài chính Anh. Điều này khẳng định rằng cả hai trạng thái cực đoan: lãi suất quá thấp duy trì kéo dài hoặc lãi suất tăng đột ngột quá cao đều gây xói mòn nghiêm trọng khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại.

Hệ thống kết quả được trình bày chặt chẽ qua bảng thống kê mô tả, ma trận tương quan Pearson và bảng kiểm định đa cộng tuyến với hệ số nhân tử phóng đại phương sai VIF đều duy trì dưới mức 5, loại trừ hoàn toàn nguy cơ đa cộng tuyến. Các kiểm định Sargan và Arellano-Bond trong bảng hồi quy System GMM đều đạt mức ý nghĩa thống kê 1% và 5%, xác nhận tính vững và hiệu quả của các ước lượng tham số.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đối với Ngân hàng Nhà nước, cần điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt, thận trọng và có lộ trình rõ ràng, tránh các bước điều chỉnh lãi suất giật cục vượt quá 2% trong thời gian ngắn. Ngân hàng Nhà nước nên duy trì đường cong lợi suất có độ dốc dương vừa phải, đảm bảo mức lãi suất thực dương từ 2% đến 4%/năm để vừa kích thích tăng trưởng kinh tế, vừa hỗ trợ biên lãi ròng NIM của hệ thống ngân hàng duy trì ổn định trên mức 3%.

Thứ hai, đối với các ngân hàng thương mại, ban điều hành cần chủ động nâng cao năng lực quản trị rủi ro lãi suất thông qua việc thiết lập mô hình quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất và thời lượng đáo hạn tài sản, mục tiêu kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ nợ xấu dưới 2,5% trong giai đoạn 2018-2022 nhằm đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn an toàn vốn theo chuẩn mực Basel II.

Thứ ba, các ngân hàng thương mại cần đẩy mạnh tái cơ cấu nguồn thu, nâng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi NNIM từ mức dưới 15% hiện tại lên mức mục tiêu từ 25% đến 30% tổng doanh thu hoạt động trong lộ trình 3 đến 5 năm tới. Động thái này giúp đa dạng hóa dòng tiền, giảm phụ thuộc vào hoạt động tín dụng và phân tán rủi ro khi lãi suất thị trường biến động tiêu cực.

Thứ tư, Bộ Tài chính phối hợp cùng Ngân hàng Nhà nước phát triển đồng bộ thị trường trái phiếu chính phủ thứ cấp với các kỳ hạn chuẩn 5 năm, 10 năm và 15 năm, gia tăng khối lượng giao dịch bình quân nhằm tạo lập đường cong lợi suất chuẩn đáng tin cậy phục vụ công tác định giá tài sản tài chính.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để đánh giá cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến hệ thống ngân hàng thương mại, từ đó thiết kế các công cụ điều hành lãi suất phù hợp với từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế vĩ mô.

Thứ hai, ban giám đốc và chuyên viên phòng quản trị rủi ro, phòng quản lý tài sản nợ - tài sản có (ALM) tại 24 ngân hàng thương mại có thể ứng dụng mô hình đo lường khe hở lãi suất để tối ưu hóa việc phân bổ danh mục tài sản sinh lời và nguồn vốn huy động.

Thứ ba, các chuyên viên phân tích tài chính và nhà đầu tư tại các công ty chứng khoán, quỹ đầu tư có thể sử dụng mô hình tác động phi tuyến để dự phóng chính xác biên lãi thuần NIM và tỷ suất sinh lời ROA của các cổ phiếu ngân hàng niêm yết theo từng kịch bản biến động lãi suất thị trường.

Thứ tư, các giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng có thể sử dụng công trình này như một tài liệu tham khảo học thuật giá trị về kỹ thuật xử lý dữ liệu bảng 264 quan sát bằng phương pháp hồi quy System GMM và phân tích tác động phi tuyến trong kinh tế lượng tài chính.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Tại sao mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ suất sinh lời ROA, NIM của ngân hàng lại mang dạng hình chữ U ngược? Trả lời: Khi lãi suất tăng từ mức rất thấp, ngân hàng hưởng lợi từ hiệu ứng rớt giá tiền gửi giúp biên lãi ròng NIM mở rộng. Tuy nhiên, nếu lãi suất tăng quá cao trên 12%/năm, chi phí vốn huy động tăng vọt và áp lực nợ xấu gia tăng khiến lợi nhuận ngân hàng suy giảm, tạo nên dạng hình chữ U ngược.

Câu hỏi 2: Độ dốc đường cong lợi suất trái phiếu 10 năm phản ánh điều gì đối với hiệu quả kinh doanh của ngân hàng? Trả lời: Độ dốc đường cong lợi suất phản ánh mức chênh lệch giữa lãi suất dài hạn 10 năm và lãi suất ngắn hạn. Độ dốc càng lớn tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng thực hiện nghiệp vụ chuyển dịch kỳ hạn tài sản, giúp gia tăng biên thu nhập lãi thuần NIM từ 0,2% đến 0,5% mỗi kỳ.

Câu hỏi 3: Vì sao phương pháp System GMM lại được ưu tiên sử dụng trong nghiên cứu này? Trả lời: Phương pháp System GMM giải quyết triệt để hiện tượng nội sinh xuất phát từ mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ tiêu tài chính, đồng thời loại bỏ khuyết tật tự tương quan sai số và phương sai thay đổi trên bộ dữ liệu 264 quan sát của 24 ngân hàng giai đoạn 2006-2016.

Câu hỏi 4: Môi trường lãi suất duy trì quá thấp trong thời gian dài gây ra những hệ lụy gì cho ngân hàng thương mại? Trả lời: Khi lãi suất duy trì ở mức thấp kỷ lục kéo dài, khoảng cách chênh lệch lãi suất huy động và cho vay bị thu hẹp đáng kể, làm xói mòn khả năng sinh lời cốt lõi và thúc đẩy các tổ chức tín dụng gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro để tìm kiếm lợi nhuận.

Câu hỏi 5: Thu nhập ngoài lãi NNIM phản ứng ra sao khi chính sách tiền tệ bị thắt chặt? Trả lời: Khi chính sách tiền tệ thắt chặt và lãi suất thị trường tăng cao, giá trị các tài sản tài chính trong danh mục đầu tư chứng khoán của ngân hàng bị suy giảm, đồng thời nhu cầu tín dụng và các dịch vụ thanh toán giảm sút, dẫn đến sự sụt giảm của chỉ số thu nhập ngoài lãi NNIM.

Kết luận

  • Xác lập bằng chứng thực nghiệm vững chắc về tác động phi tuyến của chính sách tiền tệ thông qua lãi suất ngắn hạn và độ dốc đường cong trái phiếu 10 năm đến khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.
  • Chứng minh rõ nét mô hình chữ U ngược đối với tỷ suất ROA, tỷ lệ NIM, chi phí dự phòng PTT và mô hình chữ U thuận đối với thu nhập ngoài lãi NNIM.
  • Khẳng định vai trò chi phối của kênh tín dụng truyền thống khi đóng góp trên 75% nguồn thu hoạt động của 24 ngân hàng thương mại trong chuỗi thời gian 2006-2016.
  • Ứng dụng thành công phương pháp ước lượng Moment tổng quát hệ thống (System GMM) trên bộ dữ liệu 264 quan sát, mang lại độ tin cậy khoa học cao và kết quả không chệch.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện cho cơ quan quản lý và các tổ chức tín dụng nhằm kiểm soát nợ xấu dưới 2,5% và nâng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi lên 25% đến 30% trong lộ trình 5 năm tiếp theo.

Công trình nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn sâu sắc cho công tác quản trị ngân hàng hiện đại. Các nhà nghiên cứu, chuyên viên tài chính và nhà hoạch định chính sách có thể tham khảo chi tiết toàn văn luận văn để vận dụng hiệu quả các mô hình định lượng vào thực tiễn quản lý rủi ro và điều hành hệ thống tài chính.