Chương 1: Giới thiệu Nội dung chương này giới thiệu khái quát đề tài nghiên cứu của bài luận văn bao gồm: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu Nội dung chương này trình bày tổng quan về tỷ suất sinh lời và cơ cấu cổ đông của NHTM. Về tỷ suất sinh lời, bài nghiên cứu trình bày khái niệm và các nhân tố tác động, còn cơ cấu cổ đông, tác giả trình bày khái niệm, phân loại và đặc điểm cấu trúc sở hữu của NHTM cổ phần. Tiếp đến, bài nghiên cứu trình bày sơ lược một số nghiên cứu trước đây về tác động của cơ cấu cổ đông đến tỷ suất sinh lời của NHTMCP.
Cuối cùng là phát triển giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng cơ cấu cổ đông và tỷ suất sinh lời của NHTM cổ phần Việt Nam 2 GDP Việt Nam, truy cập tại http://data.org/indicator/NY.ZG/countries/VN?display=graph 3 Chỉ số tại trung ngành Việt Nam, truy cập tại http://databank.org/Data/Views/VariableSelection/SelectVariables.aspx?source=Global%20 Financial%20Development TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Nội dung chương trình bày thực trạng về tình hình thay đổi cơ cấu sở hữu ở các NHTM Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời đánh giá sơ bộ về chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của NHTM quốc doanh và NHTM tư nhân Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu Trong chương này, tác giải đưa ra mô hình nghiên cứu, giải thích các biến phụ thuộc cũng như biến độc lập có trong mô hình. Đồng thời đưa ra kỳ vọng dấu của mô hình nghiên cứu, cách thức kiểm định giả thuyết nghiên cứu. Ngoài ra, nội dung chương này còn trình bày thống kê mô tả các biến, ma trận tương quan và kết quả hồi quy thể hiện tác động của các biến trong mô hình, đồng thời phân tích kết quả nghiên cứu vừa tìm được.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Chương này tác giả đề xuất các giải pháp dựa trên kết quả nghiên cứu nhằm nâng cao tỷ suất sinh lời của NHTM cổ phần Việt Nam. Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Bằng phương pháp ước lượng Pooled OLS, FEM và REM để tìm kết quả hồi quy và thực hiện kiểm định giả thuyết (H1, H2, H3) đã tìm được mối quan hệ giữa cơ cấu cổ đông và tỷ suất sinh lời ngân hàng. Theo đó, sở hữu nhà nước ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ suất sinh lời ngân hàng (trả lời câu hỏi thứ nhất); sở hữu nước ngoài có ảnh hưởng tích cực tỷ suất sinh lời ngân hàng (trả lời câu hỏi thứ hai); sở hữu trong nước ảnh hưởng tích cực đến tỷ suất sinh lời ngân hàng (trả lời câu hỏi thứ ba). Ba câu trả lời trên đã cho thấy các chính sách về cho phép đầu tư ngoài ngành của DNNN, đặc biệt là đầu tư ngân hàng đã cho kết quả tiêu cực lên hệ thống ngân hàng.
Trong khi đó, các chính sách như tái cấu trúc DNNN, cổ phần hóa ngân hàng quốc doanh, hay mở cửa thị trường ngân hàng nước ngoài được kỳ vọng mang đến kết quả tích cực. Bên cạnh đó, kết quả này cũng đã củng cố các nghiên cứu tương tự tại các nước đang phát triển, và bổ sung thêm kết quả nghiên cứu cho trường hợp của Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 CHƯƠNG 2 U CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ CẤU CỔ ĐÔNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ CẤU CỔ ĐÔNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Chương 2 điểm qua các công trình nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa cơ cấu cổ đông và tỷ suất sinh lời của ngân hàng, đồng thời phát triển giả thuyết nghiên cứu. Cụ thể, mục 2.1 – khung lý thuyết, mục 2.2 – ảnh hưởng của cơ cấu cổ đông lên tỷ suất sinh lời của ngân hàng, mục 2.3 – phát triển giả thuyết nghiên cứu, và cuối cùng là tóm tắt chương 2.
Cấu trúc sở hữu, Cơ cấu cổ đông và Tỷ suất sinh lời tại các Ngân hàng thương mại Cấu trúc sở hữu có thể được xác định theo hai khía cạnh: Quyền sở hữu tập trung (ownership concentration) và quyền sở hữu hỗn hợp (ownership mix) (Gursory & Aydogan, 2002). Quyền sở hữu tập trung là những cổ đông nắm giữ nhiều cổ phiếu nhất, đồng thời chịu ảnh hưởng nhiều nhất đến rủi ro và chi phí giám sát, (Pedersen & Thomsen, 1999). Trong nghiên cứu của Rokwaro (2013) khái niệm mức độ tập trung sở hữu được sử dụng là tỷ lệ sở hữu của 5 cổ đông lớn nhất trong các NH của Kenya. Wen (2013) cũng sử dụng mức độ tập trung sở hữu trong các NHTM nhà nước và các NHNTM tư nhân của Trung Quốc là tỷ lệ sở hữu của các cổ đông lớn nhất.
Antoniadis et al. (2010) cũng nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ lệ cổ đông sở hữu cổ phiếu lớn nhất đến kết quả hoạt động của các NH ở Trung Đông và Nam Phi. Khái niệm quyền sở hữu hỗn hợp chính là khái niệm về cơ cấu cổ đông bao gồm các tỷ lệ sở hữu khác nhau liên quan đến các đặc tính của cổ đông như: Tỷ lệ sở hữu nước ngoài, tỷ lệ sở hữu tư nhân, tỷ lệ sở hữu nhà nước. Các hình thức sở hữu này cũng được đề cập đến trong các nghiên cứu kể trên (Rokwaro, 2013, Wen, 2013, Anstoniadis, 2010, Peong, 2012).
Tỷ suất sinh lời của các ngân hàng được đo lường bằng chỉ tiêu lợi nhuận/vốn chủ sở hữu (ROE) hoặc lợi nhuận/tổng tài sản (ROA) (Athanasoglou et al. Về nguyên tắc, ROA phản ánh khả năng quản lý của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 từ tài sản của ngân hàng, mặc dù nó có thể bị sai lệch do các hoạt động ngoại bảng. Bên cạnh đó, ROA còn cho thấy hiệu quả tiết kiệm chi phí và hiệu quả sử dụng tài sản (vòng quay tài sản). Trong khi đó, ROE thể hiện lợi nhuận cho cổ đông dựa trên vốn góp, và ROE sẽ bằng ROA nhân với số nhân vốn chủ sở hữu (dùng để đo lường đòn bẩy tài chính).
Các yếu tố tác động lên tỷ suất sinh lời được chia làm 2 nhóm yếu tố chính: yếu tố nội tại của ngân hàng và yếu tố bên ngoài liên quan đến tình hình kinh tế vĩ mô. Quyền sở hữu tập trung hay cơ cấu cổ đông đều có những tác động đến sự thay đổi trong tỷ suất sinh lời của Ngân hàng thương mại (Claessens and Djankov, 1998). Wen (2010) đã sử dụng hệ số tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) để đo lường khả năng sinh lời của các ngân hàng tại Trung Quốc, Ông tìm ra mối quan hệ tuyến tính thuận chiều giữa quyền sở hữu tập trung đến ROA. Kosak và Cok (2008) cũng nghiên cứu mối quan hệ này ở sáu quốc gia Đông Nam Âu (SEE - 6).
Họ cũng sử dụng các tỷ lệ sở hữu trong nước và tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong ngân hàng để đo lường cơ cấu cổ đông, và phân tích chỉ số sinh lời trong suốt thời kì 1995-2004. Kết quả cho thấy sự khác biệt rất nhỏ của khả năng sinh lời giữa ngân hàng sở hữu nước ngoài và sở hữu trong nước. Lý thuyết đại diện (Agency theory) Lý thuyết đại diện được phát triển bởi Jensen & Meckling (1976). Lý thuyết này đề cập mối quan giữa chủ sở hữu hay là người ủy nhiệm (principals) là chủ của các nguồn lực và người thừa hành (agents) là người được ủy quyền (được thuê) của chủ sở hữu nguồn lực và được chủ sở hữu nguồn lực trao một số quyền quản lý nhất định đối với nguồn lực của người chủ sở hữu nhằm phục vụ lợi ích của chủ sở hữu.
Lý thuyết đề cập sự xung đột lợi ích giữa người ủy nhiệm và người thừa hành. Sự xung đột lợi ích này xảy ra bởi các bên đều có lợi ích riêng và vấn đề thông tin không cân xứng giữa người ủy nhiệm và người thừa hành. Do nhà quản lý (người thừa hành) có ưu thế hơn chủ sở hữu về thông tin, nên dễ dàng hành động tư lợi, hơn nữa việc giám sát các hành động của người đại diện cũng rất tốn kém, khó khăn, phức tạp. Với vị trí của mình, người quản lý công ty được cho là luôn có xu hướng tư lợi và không đủ siêng năng, mẫn cán, và có thể tìm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 kiếm các lợi ích cá nhân cho mình chứ không phải cho công ty.Trong khi người chủ sở hữu chỉ quan tâm đến vấn đề lợi nhuận và gây áp lực lên các nhà quản lý thì sẽ dẫn đến việc các nhà quản lý cố tạo ra lợi nhuận bằng mọi cách mà không quan tâm đến các vấn đề khác, hoặc có thể chỉnh sửa các số liệu sổ sách….Điều này làm phát sinh các chi phí đại diện, là những chi phí phát sinh để duy trì một mối quan hệ đại diện có hiệu quả.
Việc này sẽ làm giảm lợi nhuận của công ty và tăng chi phí hoạt động. ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ CẤU CỔ ĐÔNG LÊN LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG Cho đến nay trên thế giới vẫn chưa có một kết quả thống nhất về mối liên hệ giữa cơ cấu cổ đông, biểu thị bằng danh tính của cổ đông, với tỷ suất sinh lời của ngân hàng. Điều này sẽ được thể hiện dưới bảng 2.1 tóm tắt kết quả nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của cơ cấu cổ đông đến tỷ suất sinh lời của ngân hàng. Như vậy, một số nghiên cứu đã đưa ra kết luận là sở hữu Nhà nước tác động tích cực đến tỷ suất sinh lời của ngân hàng, như nghiên cứu của Boubakri et al (2005) và Davis (2014).
Vì các nhà nghiên cứu này cho rằng sở hữu Nhà nước sẽ giúp các ngân hàng có nhiều điều kiện hơn để phân bổ vốn đầu tư, có nguồn vốn dồi dào. Bên cạnh đó cũng có hai lý thuyết khác ủng hộ việc tham gia của chính phủ vào thị trường tài chính, cụ thể là, quan điểm phát triển và quan điểm chính trị (Kiruri, 2013). Quan điểm phát triển cho rằng tại một số quốc gia nơi mà các tổ chức kinh tế không phát triển tốt, sở hữu nhà nước tại các ngành kinh tế chiến lược như ngân hàng là cần thiết để tái khởi động phát triển cả về tài chính và kinh tế, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng.