CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.1 Khái niệm NHTM Theo điều 20.7 Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được ban hành năm 1997, sửa đổi bổ sung năm 2004, “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan…. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gởi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán…. NHTM có vai trò chủ lực trong phát triển kinh tế quốc dân.2 Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM NHTM có 3 nhóm nghiệp vụ chính, là nghiệp vụ nợ, nghiệp vụ có và nghiệp vụ trung gian (thanh toán hộ khách hàng).1 Nghiệp vụ tài sản nợ Huy động tạo nguồn vốn dùng cho các hoạt động của ngân hàng, bao gồm các nguồn vốn sau: + Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm: - Vốn điều lệ có thể do Nhà nước cấp, do các cổ đông hay các bên liên doanh đóng góp. Mức vốn điều lệ tuỳ theo quy mô của NHTM được Chính phủ quy định cụ thể trong từng thời kỳ.
- Vốn bổ sung bao gồm lợi nhuận chưa phân phối, các khoản phải trả chưa đến hạn trả. - Vốn dự trữ được hình thành từ các quỹ để lại quỹ dự phòng rủi ro, quỹ khấu hao tài sản cố định, các quỹ khác được để lại chưa sử dụng…. + Nguồn vốn huy động gồm: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Tiền gửi không kỳ hạn hay có kỳ hạn của cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức khác. - Tiền gửi tiết kiệm của dân cư - Tiền phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi… + Vốn vay của Ngân hàng Trung ương của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, phát hành hợp đồng mua lại, giấy nợ phụ.
+ Các nguồn vốn khác như các nguồn vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn uỷ thác đầu tư để cho vay theo các chương trình, dự án xây dựng cơ bản cụ thể.2 Nghiệp vụ tài sản có Sử dụng nguồn vốn huy động để kinh doanh tạo lợi nhuận. + Nghiệp vụ ngân quỹ. - Tiền mặt tại quỹ cao hay thấp phụ thuộc vào môi trường hoạt động và thời vụ. - Tiền dự trữ bắt buộc tính theo tỷ lệ trên nguồn vốn huy động và tiền đảm bảo thanh toán gửi tại Ngân hàng Trung ương và các ngân hàng đại lý.
+ Nghiệp vụ cho vay và đầu tư rất đa dạng, mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng và có tỷ lệ sinh lợi cao nhất, gồm có: tín dụng ứng trước, thấu chi, chiết khấu, bao thanh toán, cho thuê tài chính, đầu tư góp vốn liên doanh… 1.3 Nghiệp vụ trung gian Phục vụ theo sự ủy thác của khách hàng như thanh toán, thu hộ, môi giới chứng khoán, ủy thác…. Giữa 3 nhóm nghiệp vụ này có một mối liên hệ gắn bó qua lại, thúc đẩy nhau cùng phát triển.3 Rủi ro tín dụng: 1.1 Khái niệm và cách đo lường rủi ro tín dụng. Trong nền kinh tế thị trường, cung cấp tín dụng là một trong những chức năng cơ bản của ngân hàng. Đối với hầu hết các ngân hàng tại Việt Nam thì hoạt động tín dụng chiếm hơn 1/2 tổng tài sản có và thu nhập từ tín dụng chiếm từ 1/2 đến 2/3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tổng thu nhập của ngân hàng.
Tuy vậy, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng lại tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng. Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng. Rủi ro tín dụng hiểu một cách chung nhất là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay của ngân hàng, thể hiện qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Nói một cách khác là người vay đã không thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng tín dụng, không tuân thủ theo nguyên tắc hoàn trả khi đáo hạn.
Rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả hay rủi ro sai hẹn. Tuy nhiên, cần hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất, là khả năng xảy ra, do đó có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất. Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất; một ngân hàng mặc dù có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ rủi ro tín dụng cao nếu tập trung đầu tư vào một nhóm khách hàng hay một loại ngành nghề. Cách hiểu này giúp cho các ngân hàng chủ động trong phòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm bảo bù đắp tổn thất khi xảy ra rủi ro.
Về mặt định lượng: rủi ro tín dụng được phản ánh bởi chính số tiền nợ quá hạn, nợ đọng của mỗi ngân hàng. Về mặt định tính: rủi ro tín dụng có quan hệ ngược chiều với chất lượng tín dụng. Theo đó, chất lượng tín dụng càng cao thì mức độ rủi ro càng thấp và ngược lại, chất lượng tín dụng thấp, nợ quá hạn cao thì rủi ro tín dụng là rất lớn và có tác động ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh ngân hàng. Theo Uỷ ban giám sát hệ thống ngân hàng Basel (2007), rủi ro tín dụng là việc khách hàng vay không trả nợ đầy đủ và đúng hạn.
Rủi ro tín dụng được lượng hóa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 bằng khoản lỗ kỳ vọng, làm cơ sở để trích lập dự phòng (Uỷ ban giám sát hệ thống ngân hàng Basel 2004). Công thức tính: EL = PD x EAD x LGD Trong đó: EL: Khoản lỗ mong đợi. PD: Hệ số rủi ro căn cứ vào xếp loại khách hàng của tổ chức tín dụng. EAD: Số tiền có thể nhận được khi khách hàng phá sản.
LGD: tỷ lệ tài sản rủi ro được tính trên số tiền vay và loại tài sản cũng như giá trị tài sản đảm bảo. Rủi ro tín dụng là yếu tố khó xác định. Hiện nay, chưa có sự thống nhất giữa các học giả về cách xác định rủi ro tín dụng. Laeven Majnoni (2002) cho rủi ro tín dụng là tỷ lệ dự phòng rủi ro chia cho tổng tài sản của ngân hàng.
Vì ông quan niệm rằng dư nợ cho vay chiếm chủ yếu trong tổng tài sản nên có thể dùng trực tiếp giá trị tổng tài sản để tính rủi ro. Theo ông, toàn bộ tài sản của ngân hàng đều phải gánh chịu tổn thất khi rủi ro tín dụng xảy ra chứ không chỉ đơn thuần giá trị các khoản vay. Jemenez và Saurian (2006) lại cho rằng rủi ro tín dụng phải được tính bằng tỷ lệ giữa nợ xấu chia cho tổng dư nợ cho vay. Cách này đòi hỏi ngân hàng phải công bố đầy đủ nợ xấu thì nghiên cứu mới đạt kết quả đáng tin cậy.
Hess và các cộng sự (2008) đã kết hợp 2 cách tính trên; rủi ro tín dụng được đo lường bằng tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng chia cho dư nợ cho vay. Foos và các cộng sự (2010) đã kết hợp các nghiên cứu trên và đề xuất cách tính mới để xác định rủi ro tín dụng. Theo họ, khách hàng vay thông thường không phát sinh rủi ro tín dụng ngay trong năm vay vốn nên việc trích lập dự phòng là trích lập cho các năm trước. Nếu xác định rủi ro bằng cách so sánh dự phòng với dư nợ vay trong cùng 1 năm là không hợp lý.
Trong Luận văn, rủi ro tín dụng được tính bằng cách sử dụng số tiền dự phòng rủi ro năm t chia cho dư nợ tín dụng năm t-1; cách này khá phù hợp với dữ liệu được thu thập tại Việt Nam. Dư nợ cho vay của các ngân hàng Việt Nam được chia làm 5 nhóm. Theo thông lệ, nợ xấu bao gồm nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5. Tuy nhiên, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2008) lại qui định nợ từ nhóm 2 trở đi phải trích lập dự phòng, mặc nhiên xem nợ nhóm 2 là nợ xấu.
Vì sự thiếu đồng nhất về cách xác định nợ xấu, tác giả chọn cách tính rủi ro tín dụng của Foos và các cộng sự (2010) cho Luận văn, với toàn bộ dư nợ được thể hiện trên báo cáo tài chính, bao gồm: cho vay khách hàng cá nhân, cho vay khách hàng doanh nghiệp và cho vay các định chế tài chính. Nghiên cứu rủi ro tín dụng được dành cho tương lai và dự báo tương lai luôn khó đảm bảo chính xác dù với bất kỳ phương pháp nghiên cứu nào. Nghiên cứu này đánh giá rủi ro tín dụng đối với từng ngân hàng dựa vào giá trị trích lập dự phòng năm t trên tổng dư nợ cho vay năm t – 1. Nếu các tổ chức tín dụng đều quan tâm đến việc đánh giá chất lượng danh mục cho vay nhằm trích lập dự phòng đúng và đủ, để đảm bảo đủ bù đắp tốn thất khi rủi ro tín dụng xảy ra, thì tỷ lệ trích lập dự phòng trong tổng dư nợ cho vay sẽ thể hiện mức độ rủi ro tín dụng tại các tổ chức tín dụng.
Công thức tính: Giá trị trích lập dự phòng năm t Rủi ro tín dụng (CRR) = Tổng dư nợ năm t – 1 Khi một khoản vay bị thất thoát không thu hồi được, về nguyên tắc, ngân hàng phải dùng nguồn vốn chủ sở hữu để trả cho người gửi tiền, đến mức nào đó sẽ không đủ khả năng tự bù đắp các tổn thất này nữa và có thể bị mất khả năng thanh toán, tiếp theo sẽ bị phá sản.2 Đặc điểm rủi ro tín dụng. - Rủi ro tín dụng mang tính tất yếu: Rủi ro tín dụng luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng. Chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng cần phải đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro – lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội, đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 chấp nhận.
Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gành chịu là hợp lý và kiểm soát được và nằm trong phạm vi khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực tín dụng của ngân hàng. - Rủi ro mang tính gián tiếp: Rủi ro tín dụng xảy ra sau khi ngân hàng giải ngân vốn vay và trong quá trình sử dụng vốn vay của ngân hàng.