CHƯƠNG 1 Tiếp cận góc độ tài chính, chương này đã chỉ ra tính tất y ếu c ủa m ục tiêu lợi nhuận đối với các doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng; t ừ lý thuy ết về lợi nhuận và rủi ro trong quản trị tài chính, đề tài đã chỉ ra mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận của các NHTM; sau đó kết hợp v ới các nghiên cứu thực nghiệm, đề tài đã khẳng định ý nghĩa khoa học và th ực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, chương này cũng đ ưa các m ục tiêu nghiên cứu cụ thể và sẽ được xác định giải quyết thông qua các câu hỏi nghiên cứu. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã chỉ ra đối tượng nghiên cứu và giới h ạn phạm vi nghiên cứu về nội dung, thời gian và không gian. Sau khi khái quát nguồn dữ liệu và phương pháp nghiên c ứu, ch ương này đã khẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn của của đề tài.
Cu ối cùng, chương này đã cung cấp thông tin khái quát cấu trúc đề tài bao gồm 5 chương nội dung. 9 Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Chương 2 sẽ thực hiện khảo lược cơ sở lý thuyết và các nghiên c ứu th ực nghiệm tại Việt Nam và các quốc gia khác có liên quan tác đ ộng c ủa r ủi ro tín dụng trong nghiệp vụ cấp tín dụng đến lợi nhuận của các NHTM, qua đó chương này sẽ thảo luận để xác định khoảng trống nghiên cứu và định h ướng cho mô hình nghiên cứu của đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Lợi nhuận (Profitability) là chỉ tiêu tài chính quan trọng, được quan tâm bởi tất cả các chủ thể có liên quan đến doanh nghiệp nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng; và dưới góc độ tài chính, lợi nhuận cần phải xem xét trong mối quan hệ với các nguồn lực mà doanh nghiệp đã sử dụng để tạo ra nó như tổng vốn đầu tư, vốn chủ sở hữu,. (Ngô Kim Phượng, Lê Hoàng Vinh và các cộng sự, 2018; Richard A.
Brealey và các cộng sự, 2008). Như vậy, lợi nhuận được tiếp cận trong đề tài là thước đo dạng số tương đối, thể hiện khả năng sinh lời của NHTM niêm yết tại Việt Nam. Dưới góc độ quản trị tài chính NHTM, mục tiêu lợi nhuận được nhận diện, đánh giá thông qua khả năng tạo ra lợi nhuận dành cho các chủ sở hữu (cổ đông) và được đo lường bởi chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity). Lợi nhuận sau thuế Suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu bình quân = Suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cho biết một đồng vốn của chủ sở hữu thì NHTM tạo ra cho họ bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu lợi nhuận này đã tính đến tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính.
Nếu suất sinh lời 1 trên vốn chủ sở hữu được tiếp cận theo giá thị trường thì đây sẽ là chỉ tiêu so sánh với chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu, qua đó đánh giá hiệu quả quản trị tài chính của NHTM trong việc thực hiện mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản cho chủ sở hữu, hay giúp cho nhà đầu tư nhận biết giá thị trường của cổ phiếu NHTM đang trong tình trạng cao, thấp hay đúng giá. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGHIỆP VỤ CẤP TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. Roger Claessens (2010) định nghĩa rủi ro tín dụng (credit risk) là rủi ro mà một hợp đồng tài chính không được tôn trọng theo tập hợp các điều khoản hoặc kỳ vọng ban đầu; theo đó rủi ro tín dụng trong nghiệp vụ cấp tín dụng của NHTM được tiếp cận với nhiều khái niệm khác nhau, chẳng hạn như: Rủi ro tín dụng là khả năng mà người được cấp tín dụng hoặc đối tác của NHTM thất bại trong việc thực hiện theo các điều khoản hoàn trả đã thỏa thuận (Basel Committee on Banking Supervision, 1999), do đó rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro vỡ nợ, phát sinh từ việc không chắc chắn liên quan đến việc không hoàn trả các khoản tín dụng từ phía khách hàng cho NHTM. Tại Việt Nam, Thông tư 02/2013/TT-NHNN giải thích rằng rủi ro tín dụng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với khoản cấp tín dụng của NHTM do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ mà họ đã cam kết.
Từ những tiếp cận khác nhau, đề tài tiếp cận rủi ro tín dụng trong nghiệp vụ cấp tín dụng của NHTM, đó là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của NHTM khi khách hàng không thực hiện đúng cam kết liên quan đến vốn gốc và/hoặc tiền lãi trong hợp đồng tín dụng giữa NHTM với khách hàng; nếu rủi ro tín dụng xảy ra thì NHTM sẽ bị tổn thất tài chính, cụ thể là giảm lợi nhuận, thậm chí nghiêm trọng có thể đẩy NHTM vào tình trạng thua lỗ. Bessis (2002) nhấn mạnh rằng NHTM cần đặc biệt quan tâm đến rủi ro tín dụng vì chỉ cần một số lượng nhỏ các khách hàng mất khả năng thanh toán cũng có thể dẫn đến những tổn thất lớn cho NHTM, đặc biệt là NHTM còn khiêm tốn trong việc kinh doanh dịch vụ tài chính phi tín dụng và cấp tín dụng được coi là nghiệp vụ sinh lời chủ 1 yếu thì rủi ro tín dụng lại càng được quan tâm nhiều hơn. Basel Committee on Banking Supervision (1999) cũng khẳng định rằng các NHTM quản lý rủi ro tín dụng với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận bằng cách duy trì rủi ro tín dụng thể hiện qua thông số có thể chấp nhận được. Từ bản chất của rủi ro tín dụng và tính tất yếu của việc kiểm soát rủi ro tín dụng nhằm đảm bảo chất lượng tín dụng, qua đó góp phần tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu tài chính nói chung và mục tiêu lợi nhuận nói riêng của NHTM, đề tài sẽ tiếp cận và phân tích rủi ro tín dụng trong nghiệp vụ cấp tín dụng của NHTM với chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu.
Nợ nhóm 3,4,5 Tỷ lệ nợ xấu = Tổng dư nợ cấp tín dụng Tỷ lệ nợ xấu cho biết cứ 100 đồng dư nợ cấp tín dụng thì có bao nhiêu đồng nợ xấu, bao gồm nợ dưới chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn. Nếu tỷ lệ nợ xấu càng lớn phản ánh mức độ rủi ro tín dụng trong nghiệp vụ cấp tín dụng của ngân hàng càng cao, và ngược lại. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO T N DỤNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. Lý thuyết rủi ro và lợi nhuận trong quản trị tài chính Theo lý thuyết rủi ro và lợi nhuận (the theory of risk and return) trong quản trị tài chính, với bất cứ một khoản đầu tư nào được lựa chọn, nhà đầu tư đều kỳ vọng mang lại cho họ một khoản lợi nhuận nhất định nào đó; tuy nhiên, lợi nhuận tạo ra từ đầu tư có thể đúng bằng kỳ vọng, có thể lớn hơn kỳ vọng, hoặc có thể nhỏ hơn kỳ vọng; mức độ biến động của lợi nhuận có thể đạt được so với lợi nhuận kỳ vọng càng cao thể hiện rủi ro của khoản đầu tư càng lớn và ngược lại (Brealey và cộng sự, 2008; Ngô Kim Phượng, 2015).
Rủi ro là xác suất xảy ra tình huống xấu hơn so với kỳ vọng hoặc tình huống mong đợi, đó là biến cố có thể xảy ra nhưng cũng có thể không xảy ra, tức rủi ro hàm ý đến sự không chắc chắn (uncertainty); vì vậy lợi nhuận có thể đạt được của một khoản đầu tư bất kỳ sẽ bằng lợi nhuận kỳ vọng cộng với mức tác động của rủi ro, theo đó có 2 trường hợp: (i) mức tác động của rủi ro lớn hơn hoặc bằng 0 1 cho biết rằng không có tác động của rủi ro làm giảm lợi nhuận, và (ii) mức tác động của rủi ro nhỏ hơn 0 cho biết rằng rủi ro có tác động làm giảm lợi nhuận (Ngô Kim Phượng, 2015). Như vậy, theo lý thuyết rủi ro và lợi nhuận trong quản trị tài chính, NHTM cấp tín dụng cho khách hàng và kỳ vọng mang cho NHTM một khoản lợi nhuận; tuy nhiên lợi nhuận mà NHTM đạt được có thể cao, bằng hoặc thấp hơn kỳ vọng, điều này được lý giải bởi tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận, có thể không có tác động của rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận của NHTM, nhưng cũng có thể rủi ro tín dụng có tác động làm giảm lợi nhuận của NHTM. Lý thuyết “kém may mắn” và “quản lý kém” Berger và DeYoung (1997) đưa ra hai giả thuyết nhằm giải thích tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của NHTM là lý thuyết “kém may mắn” – “bad luck” theory và lý thuyết “quản lý kém” – “bad management” theory. Theo lý thuyết “kém may mắn”, NHTM cấp tín dụng cho khách hàng, nếu rủi ro tín dụng của khách hàng gia tăng thì NHTM sẽ phải tiến hành trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và chấp nhận gia tăng chi phí hay NHTM phải tốn thêm chi phí liên quan cho việc giải quyết các vấn đề liên quan rủi ro tín dụng của khách hàng như chi phí giám sát khách hàng cũng như tài sản đảm bảo, chi phí phân tích và đàm phán với khách hàng về các khoản cấp tín dụng đã và đang có khả năng xảy ra rủi ro tín dụng, hay chi phí gián tiếp như danh tiếng, uy tín cũng như mức độ an toàn của NHTM có thể bị đánh giá thấp bởi thị trường hay các cơ quan quản lý.
Như vậy, rủi ro tín dụng có thể tác động tiêu cực, làm giảm lợi nhuận và thậm chí có thể đẩy NHTM rơi vào tình trạng thua lỗ, làm giảm vốn chủ sở hữu của NHTM và cuối cùng làm giảm giá trị tài sản của chủ sở hữu (cổ đông). Theo lý thuyết “quản lý kém”, các NHTM hoạt động hiệu quả, tạo ra được lợi nhuận chứng tỏ rằng khả năng quản lý rủi ro tín dụng tốt hơn các NHTM yếu kém, lợi nhuận thấp; khả năng quản lý đó được xem là một phần năng lực cốt lõi của các NHTM.