Chương 1: Trình bày về các khái niệm và phân loại tục ngữ với thành ngữ trong tiếng Nhật, đặc trưng của tục ngữ và những biểu hiện về mặt cấu tạo của các tục ngữ tiếng Nhật có chứa yếu tố gidi. - Chuong 2: Trinh bày vé những biéu hiện về mặt ngôn từ trong các tục ngữ tiếng nhật có chứa yếu tô gidi. - Chương 3: Trinh bày về giá trị biểu trưng cho giới tinh nam, giới tính nữ và tìm hiểu quan niệm, đánh giá của người Nhật về vị thế vai trò, tính cách của từng giới trong xã hội. 15 CHUONG 1 YEU TO GIỚI NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CẤU TẠO TỤC NGỮ 1.1 Khái niệm về tục ngữ Trong các công trình về tiếng Nhật, hầu hết các nhà Nhật ngữ học đều thống nhất sử dung hai cách gọi “Kotowaza” (<= ¢ 328) và “Kanyouku” (lễ H#J) cho 2 loại đơn vị ngôn ngữ cố định có nội hàm không hoàn toàn giống nhau.
Trên cơ sở đặc trưng của từng kiểu loại, các nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng Kotowaza đa phần tương đương với đơn vị tục ngữ của tiếng Việt, còn Kanyouku đa phần tương đương với đơn vị thành ngữ. Từ trước đến nay ở Nhật Bản có rất nhiều định nghĩa, quan niệm về tục ngữ, thành ngữ. Trong “ lš H#4JØ{§3ãl92) li” Phân loại hệ thống thành ngữ của Momiyama Yosuke (1997)!” có viết : “Thành ngữ là một liên kết cỗ định của nhiều từ, trong đó ý nghĩa của tổng thể không thé bắt nguồn từ tong số ý nghĩa mà các từ cấu thành riêng lẻ, hoặc cũng có khi chúng không phải là một phần của liên kết đó. Hay Shiraishi Daiji (1950)'8 cho rang: “Thành ngữ (4 74 AA) là đơn vi ngôn ngữ có những đặc điểm co bản: Về hình thức, thành ngữ giống như cụm từ nhưng là cụm từ đặc biệt.
Là cụm từ bởi thành ngữ bao gồm ít nhất từ hai từ trở lên. La cụm từ đặc biệt bởi thành ngữ có tô chức cau trúc nghiêm ngặt, thường không thê thêm bớt từ hay thay đổi một cách tự do trật tự của chúng; có nghĩa biểu trưng, bóng bay, an dụ. ” Còn với tục ngữ, trong luận án tiến sy “EY TIL H2KñRØ* È bătc 7439 x0 RI LCORE-Yev #—9)j 2š” (Ý thức giới và những biến đổi của nó trong tục ngữ Mông Cổ và Nhật Bản - nhìn từ góc độ giới) của Shunka (2012) '° thì “Tục ngữ là tác phẩm văn học của con TLL ÿ#2t(997) BAA OMANIMEL , k2? RGA BỊ 32⁄2, tr.29 BAA &K (1950) [HkKff7+3 | =#34iẪHhW ERR OGE, tr.112 19 #2§(2012) [ev AVL H2SiR02+*~ LDSICKUSERORR tX02Z8L-3?+~ + È#—03Ä x25 | BME KE tr.19 16 người được lưu truyền trong xã hội từ xa xưa. Tác giả của những câu văn này vẫn chưa được xác định và mọi người cho rằng hầu hết chúng không phải được tạo ra bởi một người cụ thé mà chúng đại diện cho lối suy nghĩ và giá tri chung của mọi người và đã được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.” Theo như cuốn “H #H:B£ = & to X#£H(từ điển so sánh thành ngữ, tục ngữ Nhat- Anh ) Yamoto ?? cho rằng: "Kotowaza được kết tinh từ trí tuệ anh minh của nhân dân.
Với hình thức ngắn gọn hàm súc, cùng sự tinh tế đầy tình người và cách thê hiện rất thú vị nhờ âm điệu, những chân lý, những lời giáo huấn hoặc những điều hài hước được rút ra từ sự trải nghiệm của nhân dân qua thời gian dài năm tháng, đã được người ta vận dụng nhiều trong mọi cảnh huống của đời sống thường nhật". Kotowaza (Tục ngữ) là thành tố quan trọng nhất trong văn hóa dân gian của Nhật Ban. Theo “A ft AGEL” ?'(Đại từ điển tiếng Nhật ) đây là những lời giáo huấn, sự phê phán nhẹ nhàng từ xưa truyền lại phần lớn do người Nhật tạo ra. Có thé coi kotowaza là cuốn sách giáo khoa lớn về kinh nghiệm cuộc song quý giá được đúc kết từ đời này sang đời khác, được truyền từ người này sang người khác.
Qua kotowaza, chúng ta có thé hiểu về một nền văn hoá đa sắc diện, độc đáo vừa truyền thống và cũng rất hiện đại của đất nước và con người Nhật Bản, đồng thời qua kotowaza cũng phần nào hiểu được hệ tư tưởng dân gian, cách trị nước an dân, những bài học kinh nghiệm, cách ứng xử thích hợp trong cuộc sống, những tri nhận về tự nhiên.ví dụ: “Gh BB LF 72 ” (keiteiwashusokunari) Anh em như chân với tay, “fC (SLL (komotebaoyagokoro) “ ##*UI3Â & 0” (seiarebashokuari ) Các học giả Việt Nam đã có những quan tâm đến thành ngữ và tục ngữ bằng những nhận xét như sau: 20 ACRE EAE (1980) PASEO EDS RE AUCH, ñ4Ê&#ñ 119, tr.102 17 Lê Chi Qué căn cứ vào đặc tinh văn học của thể loại để nhận xét về tục ngữ: "Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc do nhân dân lao động sáng tạo và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Nó phản ánh và đúc kết mọi mặt tri thức, đời sống của nhân dân thông qua những hình tượng nghệ thuật độc đáo.” Đỗ Hữu Châu cho răng, sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là ở chỗ, trong khi ngữ cô định có tính chất tương đương với từ hoặc cụm từ thì tục ngữ là những đơn vi tương đương với câu, va trong khi ý nghĩa của các ngữ có định tương đương với nghĩa của cụm từ thì nghĩa của tục ngữ là “một phán đoán, một sự đánh giá, một sự khăng định về một chân lý, một lẽ thường đối với một nền văn hóa nao đó, nghĩa là một tư tưởng hoàn chỉnh”23 Trong bài "Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ " Nguyễn Văn Mệnh đã kết luận "Có thể nói nội dung của một thành ngữ mang tính chất hiện tượng còn nội dung của tục ngữ nói chung là mang tính chất quy luật. Từ sự khác nhau cơ bản về nội dung dẫn đến sự khác nhau cơ bản về hình thức ngữ pháp. Mỗi thành ngữ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh.
Tục ngữ thì khác han. Mỗi tục ngữ “tối thiêu là một câu” ?1. Trong “Tục ngữ Việt Nam”?”, Chu Xuân Diên đã viết: "Tục ngữ là một đơn vị độc lập, có những đặc điểm truyền thống về mặt cấu trúc, hình thức cũng như về mặt tạo nghĩa". Về thành ngữ tục ngữ tác giả còn nói rõ thêm: "Sự giống nhau giữa thành ngữ và tục ngữ là ở chỗ cả hai đều là những sản phẩm của sự nhận thức của nhân dân về các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan, đều chứa đựng và phản ánh tri thức của nhân dân.
Sự khác nhau là ở chỗ những tri thức ay khi được rút lại thành những khái niệm thi ta có thành ngữ, con khi được trình bày, diễn giải thành các phán đoán thì ta có tục ngữ.” 22 Lê Chi Quế (2001) Văn học dân gian Việt Nam, NXB Dai hoc quốc gia Hà Nội, tr.239 23 Đỗ Hữu Chau (1996) Ngôn ngữ học thực hành, NXB Giáo dục Việt Nam, tr.75 2 Nguyễn Văn Mệnh ( 1972) Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ ,Tạp chí ngôn ngữ số 3, tr.13 ? Chu Xuân Diên ( 1985) Tuc ngữ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội,I 1, tr.160 18 Mặc dù cùng sử dụng các từ gốc Hán vay mượn từ Trung Hoa song cách hiểu của người Việt và người Nhật về khái niệm thành ngữ (kanyoku) và tục ngữ (kotowaza) có ít nhiều khác nhau. Từ ý kiến của các nhà nghiên cứu trên có thé nhận định tục ngữ có đặc điểm chung nhất đó là: Tục ngữ là trí tuệ mà con người đúc kết được qua nhiều năm kinh nghiệm, là bài học và chân lý được lưu truyền từ xa xưa. Từ câu tục ngữ, có thé thay được lối sống, cách nghĩ của con người trong thời đại hình thành ra nó. Tục ngữ, với tư cách là một dạng ngôn ngữ, cũng thay đổi theo thời gian.
Có nhiều trường hợp những câu tục ngữ đã từng sử dụng nay không còn được sử dụng nữa, hoặc ý nghĩa của những câu tục ngữ đã có những thay đổi nhất định so với ý nghĩa trước đây. Từ đó có thé thấy được những thay đổi thay đổi trong tư duy, quan niệm của xã hội trong những giai đoạn, thời kỳ khác nhau. Và chúng ta có thể rút ra được sự giống và khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ - kotowaza như bảng dưới đây : Bang 1.1: Phân biệt thành ngữ và tục ngữ Thành Ngữ Tục Ngữ Có ý nghĩa hoàn chỉnh, mang tính ví von, ân dụ, bóng bây và Giống nhau | mang 2 tầng ngữ nghĩa Có hình thái câu trúc là cụm Câu hoặc phát ngôn cố định từ cố định hoặc cụm Chủ- Vi (gôm cả câu đơn và câu ghép) Có chức năng định danh sự Có chức năng định danh sự Khác nhau vật, hiện tượng, quá trình, kiện, sự tình, trạng huống quan hệ Có tính tái hiện trong lời nói, Đúc kết kinh nghiệm và có có tính miêu tả tính tri thức 19 1. Đặc trưng của tục ngữ tiếng Nhật.
Theo như từ điển : “* ¿‡2#lrZ3L£†EZñl BEROLEDS ## H” (Phân biệt giới tinh biểu hiện trong tục ngữ) Watanabe Tomosuke (19953 thì tục ngữ có những đặc điểm cơ bản như sau: - Qui tắc 1: Bản chất của tục ngữ: tục ngữ là tác phâm ngôn ngữ phê phán con người, thế giới con người, các sự kiện xã hội, hiện tượng tự nhiên, năm bắt chính xác chân lý và diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn. - Qui tắc 2: Chức năng của tục ngữ: vì tục ngữ có bản chất được mô tả ở qui tac 1 nên tục ngữ thường dùng làm co sở để lựa chọn, quyết định các thái độ, hành động trong đời sống hàng ngày của chúng ta, chúng có chức năng làm cơ sở cho sự hợp lý hóa. Nó là cơ sở để giải thích và hiểu được thái độ và hành động của người khác. - Qui tắc 3: Tác giả của các câu tục ngữ: thường không thể xác định được.
Tục ngữ vốn được sinh ra từ con người và vì mang bản chất được mô tả ở qui tac 1 và chức năng được mô tả ở qui tắc 2 nên chúng được truyền bá đồng thời trong nhiều người, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bởi nhiều người. Trong kho tang văn hóa dân gian, tục ngữ mang đậm nét đặc trưng da dạng và phong phú, nhằm phản ánh day đủ đời sống văn hóa tinh thần muôn màu muôn vẻ của đại đa số quần chúng. Do không có giới hạn của không gian và thời gian cho sự hình thành và phát triển của tục ngữ, nên dé đi đến kết luận chung về nét đặc trưng của tục ngữ quả là khó khăn.