Chương 1: Nêu lý do hình thành, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết, giới thiệu về các khái niệm và lý thuyết, các nghiên cứu liên quan. Từ đó xây dựng giả thuyết thống kê và hình thành mô hình nghiên cứu thích hợp. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu, trình bày phương pháp nghiên cứu, thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu, phân tích và diễn dịch kết quả của nghiên cứu: trình bày kết quả phân tích và đánh giá các thang đo đồng thời trình bày kết quả đánh giá mô hình nghiên cứu. Chương 5: Kết luận, tóm tắt nghiên cứu – ý nghĩa thực tiễn rút ra từ nghiên cứu – đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ giới thiệu các khái niệm về: Hành vi đổi mới, hành vi sáng tạo và một số yếu tố tác động đến hành vi sáng tạo: Lãnh đạo theo phong cách trao quyền, sự động viên, môi trường làm việc hài hước, đào tạo tri thức và năng lực cá nhân. Chương này đưa ra một số nghiên cứu và mô hình nghiên cứu trước đó, từ đó nhận xét, tổng hợp thành mô hình nghiên cứu cho chính đề tài qua việc xây dựng các giả thuyết.
đồng thời đưa ra một số nét khái quát về giáo dục mầm non tại Việt Nam.1 Giáo dục mầm non 2.1 Khái niệm Giáo dục mầm non là bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến năm tuổi. Giáo dục mầm non bao gồm nhà trẻ (0-2 tuổi) và mẫu giáo (3-5 tuổi) Hình 2.1 Phân loại trường mầm non Trích hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam (Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo 2015) Giáo dục mầm non chia ra các mục tiêu khác nhau ở các đổ tuổi mà cụ thể là cuối mỗi độ tuổi bao gồm: - Cuối tuổi nhà trẻ: bao gồm phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm xã hội - Cuối tuổi mẫu giáo: bao gồm phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm xã hội và thẩm mỹ.2 Cạnh tranh ngành giáo dục mầm non Hiện tại, tỷ lệ nhập học cho nhóm trẻ em đặc biệt là nhóm 5 tuổi trước khi vào lớp 1 là rất cao chiếm 98% vào năm 2013. Bên cạnh đó, nhóm trẻ từ 0-2 tuổi có tỉ lệ nhập học tăng trong 10 năm vừa qua tuy nhiên tỉ lệ hiện tại là không cao do công tác huy động cũng như tình hình thiếu giáo viên và cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu gửi trẻ (theo ktexhgd.
Hiện nay các trường mầm non được tổ chức thành 3 loại hình: - Trường mầm non công lập: Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo công lập do cơ quan Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên hay nói cách khác trường mầm non công lập được thành lập từ sự đảm bảo, đầu tư của Nhà nước. - Trường mầm non dân lập: Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí hoạt động và được chính quyền địa phương hỗ trợ. - Trường mầm non tư thục: Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo tư thục do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước. Trường mầm non công lập vẫn là chủ yếu trong hệ thống giáo dục mầm non và tỉ lệ trường ngoài công lập đang có xu hướng thu hẹp lại (16.
Tuy nhiên, tại một số thành phố lớn, tỉ lệ trường mầm non ngoài công lập chiếm tỉ lệ khá cao như: Tp. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đà Nẵng… 7 Hình 2.2 Tỉ lệ trường mầm non công lập tại các thành phố lớn Ngoài các chương trình đào tạo theo Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, các trường mầm non còn mang đến chương trình đào tạo quốc tế, cơ sở vật chất hiện đại trang bị điều hòa, thiết bị nghe nhìn, theo dõi trực tuyến cho quý phụ huynh, đội ngũ giáo viên trong và ngoài nước nhiều kinh nghiệm, tham quan dã ngoại… nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện, tạo lợi thế cạnh tranh so với các trường mầm non khác cũng như tạo sự tin tưởng cho các bậc phụ huynh khi đưa con em đến trường.2 Tổng quan về đổi mới Các tổ chức tồn tại trong một môi trường thay đổi thường xuyên và rất nhanh, sự tồn tại của tổ chức phụ thuộc vào năng lực của nó trong việc thích ứng với những cơ hội và thay đổi, đồng thời nó phải luôn đổi mới, sáng tạo để duy trì sức sống của nó mà trong đó vai trò của người nhân viên là rất quan trọng (Lam, 2011).1 Áp lực thay đổi Các tổ chức đòi hỏi phải được thay đổi do những áp lực khác nhau. Những áp lực này có thể phân chia làm nhiều loại song chúng thường được chia thành áp lực bên ngoài và áp lực bên trong.1 Các áp lực cho sự thay đổi (Lam, 2011) 8 ÁP LỰC CHO SỰ THAY ĐỔI ÁP LỰC KHÁNG CỰ TỪ SỰ THAY ĐỔI Những áp lực bên trong Kháng cự cá nhân 1. Công nghệ mới.
Lo sợ về những điều không biết. Sự thay đổi những giá trị công 2. Học tập mới. Phá hủy những quan hệ bạn bè ổn định.
Sự sáng tạo những kiến thức mới. Không tin vào đội ngũ quản lý. Sự lỗi thời của sản phẩm. Nhu cầu cho sự thanh thản và lịch làm việc năng động.
Áp lực bên ngoài (môi trường) Kháng cự tổ chức 1. Sự đe dọa của cấu trúc quyền lực. Thay đổi trong nhu cầu khách 2. Sức ỳ của cấu trúc tổ chức.
Những mối quan hệ mang tính hệ thống. Sự sẵn có của những nguồn lực. Những chi phí đã bỏ ra. Sự thay đổi chính trị xã hội.
Những thay đổi quốc tế. Nguồn: Hành vi tổ chức- Nguyễn Hữu Lam (2011) Như vậy, môi trường xã hội, pháp lý chính trị, công nghệ, kinh tế và nhu cầu của khách hàng là những tiền đề của sự thay đổi liên tục tại các doanh nghiệp, tổ chức. Xu hướng thị trường hiện nay đang ngày càng gia tăng tính cạnh tranh, sự toàn cầu hóa, tăng cường vốn cho các hoạt động nghiên cứu, phát triển và sản xuất nhằm gia tăng sự phức tạp của công nghệ, qui trình, rút ngắn chu kì đổi mới cùng với sự không đồng nhất của khách hàng trong tương tác… đã dẫn đến sự đa dạng phức tạp của các loại sản phẩm (Stephan và Karl, 2009). Do đó nhận diện và phản ứng lại 9 những thay đổi này là nhiệm vụ chiến lược cần thiết của doanh nghiệp để đảm bảo thành công lâu dài và tồn tại trong nền kinh tế.2 Khái niệm đổi mới Schumpeter (1934) được xem là một trong những người đầu tiên nhận ra quá trình đổi mới và tác động của nó đối với phát triển kinh tế.
Ông mô tả sự đổi mới như sự thực hiện “kết hợp mới”. Sự kết hợp mới có thể liên quan đến các sản phẩm mới, dịch vụ, quy trình làm việc và thị trường mới. Hay đổi mới là việc sử dụng tri thức mới để tạo ra một dịch vụ, sản phẩm mới mà khách hàng mong muốn. Theo Porter thì đó là “một cách mới để thực hiện công việc” (một số tác giả gọi là phát minh (invention) được thương mại hóa (commercialization).
Đổi mới cũng được định nghĩa là cách tiếp cận các ý tưởng mà ý tưởng này mới đối với tổ chức tiếp nhận. West và Farr (1990) định nghĩa về sự đổi mới là việc giới thiệu và ứng dụng một sáng kiến mới vào vai trò công việc của cá nhân, nhóm, công ty, ngành công nghiệp hoặc xã hội mặc dù sáng kiến này không nhất thiết mới đối với người giới thiệu sáng kiến đó. Bên cạnh đó, Anderson (2002) cũng xác định đổi mới như sau: - Tính mới đối với xã hội mặc dù không nhất thiết mới cho người giới thiệu nó. - Dựa trên một ý tưởng, điều đó là cần thiết nhưng không phải là một điều kiện đủ cho sự đổi mới.
- Nhằm vào việc sản xuất một số lợi ích nào đó - Cố ý hơn là tình cờ - Không phải là một sự thay đổi thói quen - Ảnh hưởng rộng rãi Ý tưởng là một điều kiện cần thiết cho một sự đổi mới. Đó là điểm khởi đầu tuy nhiên để trở thành đổi mới thì ý tưởng đó phải được chuyển thành sản phẩm hoặc dịch vụ mà khách hàng mong muốn hay nói cách khác là thực hiện ý tưởng từ đó mang lại lợi ích không chỉ cho nhóm, tổ chức mà còn toàn thể xã hội, đồng thời quy trình đổi mới phải gắn liền với bối cảnh cạnh tranh và chiến lược công ty.3 Các mức độ đổi mới Có rất nhiều loại đổi mới và việc phân loại có thể thay đổi tùy thuộc vào đối tượng của đổi mới: đổi mới hệ thống văn hóa xã hội, mô hình kinh doanh, sản phẩm, dịch vụ, qui trình, tổ chức,. hoặc hướng đi của đổi mới (công nghệ, thị trường,.) hoặc cường độ của sự đổi mới (Norman và Verganti, 2012). Theo quan điểm về tổ chức, đổi mới được chia làm hai loại: Đổi mới đột phá hay triệt để (Radical Innovation): Nếu tri thức công nghệ cần có để thực hiện đổi mới đó hoàn toàn khác với tri thức hiện tại, khiến cho tri thức hiện tại trở nên lỗi thời.
Những đổi mới như thế được gọi là đổi mới mang tính triệt tiêu năng lực hoạt động hay còn gọi là đổi mới đột phá. Đổi mới gia tăng hay tuần tự (Incremental Innovation) là đổi mới dựa trên nền tảng tri thức hiện tại, đổi mới này mang tính củng cố năng lực hoạt động. Đổi mới mang tính đột phá giúp công ty, tổ chức có thể dẫn đầu trong ngành, tuy nhiên vì thay đổi này mang tính triệt tiêu năng lực hoạt động các năng lực hiện tại của công ty không còn hữu ích mà còn gây trở ngại cho việc phát triển đổi mới. Ngược lại các doanh nghiệp mới vào ngành chưa có gánh nặng về công nghệ, qui trình thì có thể dễ dàng xây dựng các năng lực cần thiết để đổi mới và khai thác đổi mới đó.
Đổi mới mang tính gia tăng giúp doanh nghiệp cải thiện hiệu quả, hạ thấp chi phí tránh tụt hậu so với đối thủ cạnh tranh, duy trì lợi thế cạnh tranh hoặc cũng có thể dẫn dắt ngành.