PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết nghiên cứu Xuất khẩu thủy sản là một trong những ngành mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Đây là ngành có sự đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, không phải lúc nào hoạt động xuất khẩu thủy sản cũng diễn ra thuận lợi.
Tùy thuộc vào sự thay đổi của bối cảnh, các doanh nghiệp thủy sản có thể gặp khó khăn khi xuất khẩu sang các thị trường quốc tế. Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản có thể do điều kiện tự nhiên tại quốc gia xuất khẩu, khiến cho nguồn cung bị giảm; hay ảnh hưởng bởi yếu tố dịch bệnh, chuỗi cung ứng thủy sản bị gián đoạn. Thêm vào đó, xuất khẩu thủy sản có thể đối mặt với nhiều thách thức khi các quốc gia nhập khẩu áp dụng ngày càng nhiều các rào cản kỹ thuật cả về mặt số lượng cũng như mức độ gay gắt. Là một trong những ngành mũi nhọn của cả nước, xuất khẩu thủy sản có vai trò quan trọng giúp cho nền kinh tế Việt Nam phát triển.
Quyết định số 339, QĐ-TTg về Phê duyệt Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đặt ra mục tiêu chung đến năm 2030, phát triển ngành thủy sản gắn với công nghiệp hóa – hiện đại hóa, năng suất, chất lượng, hiệu quả cao cũng như có uy tín, cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Từ đó, chính phủ Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm thúc đẩy, phát triển ngành xuất khẩu thủy sản. Theo thống kê của Cục Thủy sản (2023), tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt đến 11 tỷ USD, cao nhất từ trước đến năm 2022, đóng góp mạnh cho nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, sang đến năm 2023, kim ngạch xuất khẩu chỉ còn có 9,2 tỷ USD giảm 8% so với năm 2022 theo thống kê của Tổng Cục Thủy sản.
Sự sụt giảm như vậy là do Việt Nam gặp phải những trở ngại từ lạm phát cao, nhu cầu thấp, tồn kho và sự đối mặt với các hàng rào kỹ thuật từ các thị trường nhập khẩu, dẫn đến kim ngạch xuất khẩu thủy sản giảm năm 2023 do lô hàng không đạt chuẩn, bị từ chối nhập khẩu tăng. Hơn thế nữa, các quốc gia nhập khẩu thủy sản ngày càng gia tăng áp dụng các biện pháp TBT về mặt số lượng cũng như mức độ gắt gao và phức tạp. Trong số các thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, thị trường Nhật Bản là một thị trường tiềm năng góp phần quan trọng giúp cho ngành thủy sản phát triển, đồng thời mở rộng quan hệ thương mại quốc tế của ngành thủy sản phục vụ vào thế giới. Tại thị trường Nhật, đây thị trường tương đối ổn định đối với thủy sản Việt 2 Nam.
Trước đây, mặc dù nước này không ràng buộc các doanh nghiệp bằng các chứng nhận về chất lượng cho nuôi trồng và sản xuất, nhưng với sự quan tâm cao về an toàn thực phẩm cũng như làn sóng thông tin không có lợi về thủy sản Việt Nam, đã ảnh hưởng đến xuất khẩu của thủy sản Việt Nam vào thị trường này. Hiện nay, thị trường Nhật Bản cũng đang có xu hướng ngày càng đặt ra nhiều chỉ tiêu kiểm soát chất lượng với mức dư lượng cho phép thấp nhất trong các thị trường nhập khẩu thủy sản khác. Nhật Bản là thị trường khá khó tính, yêu cầu cao về các sản phẩm được nhập khẩu từ nước khác, trong đó có Việt Nam, nhưng thông qua Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản có hiệu lực từ ngày 01/10/2009, Việt Nam đã có nhiều ưu đãi về thuế suất. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Nhật cao, trên 1 tỷ USD.
Cụ thể, theo số liệu của UNCOMTRADE, năm 2022 kim ngạch xuất khẩu đạt 1,7 tỷ USD. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu có sự gia tăng nhưng sự tăng trường không cao như các năm trước. Một trong những nguyên nhân chính gây ra sự sụt giảm đó là do rào cản kỹ thuật ngày càng gia tăng. Cụ thể, theo WTO (2025), tính đến hết năm 2024, Nhật Bản đang áp dụng 295 biện pháp SPS đối với nhóm hàng thủy sản thuộc mã HS03.
Trong đó, kể từ năm 2019 đến nay, mỗi năm họ ban hành thêm từ 19 đến 42 biện pháp SPS liên quan đến an toàn thực phẩm. Điều đó đặt ra yêu cầu cao hơn về sản phẩm thủy sản từ các đối tác thương mại, doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản sẽ phải đối mặt với thách thức lớn hơn. Với thị trường lớn và tiềm năng, thị trường Nhật Bản là một thị trường trọng điểm đối với xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Do đó, cần thiết nghiên cứu các biện pháp để thúc đẩy xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Nhật Bản.
Số lượng rào cản kỹ thuật thực tế ngày càng tăng và tác động của các rào cản kỹ thuật đối với thủy sản xuất khẩu cũng chưa thực sự được đánh giá toàn diện. Cụ thể, theo số liệu của WTO, từ năm 2018 đến năm 2020, các biện pháp TBT tăng từ 3063 biện pháp được ban hành mới lên 3352 biện pháp và biện pháp SPS tăng từ 1631 biện pháp lên 2122 biện pháp. Năm 2023, tổng số rào cản kỹ thuật được ban hành mới trên thế giới là 4068 biện pháp TBT, 1994 biện pháp SPS. Sự gia tăng các rào cản kỹ thuật là kết quả của tiến trình tự do hóa thương mại, thay vì áp dụng thuế quan, các quốc gia gia tăng sử dụng các biện pháp phi thuế quan, đặc biệt là các rào 3 cản kỹ thuật.
Xu hướng gia tăng nay sẽ tiếp tục trong thời gian tới, nhất là khi các quốc gia nhập khẩu ngày càng nâng cao tiêu chuẩn, yêu cầu đối với thủy sản, đòi hỏi nhà xuất khẩu không chỉ tập trung vào số lượng mà còn gia tăng giá trị của hàng thủy sản. Việc chưa thực sự hiểu rõ về rào cản kỹ thuật khiến cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản gặp nhiều khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn kỹ thuật. Bên cạnh đó, đôi khi các doanh nghiệp chưa nhận thức rõ được về tác động của rào cản kỹ thuật đối với xuất khẩu thủy sản nên bỏ qua hay phớt lờ các yêu cầu này dẫn đến tình trạng bị từ chối nhập khẩu, gây thiệt hại nặng nề. Nghiên cứu về xuất khẩu thủy sản vào thị trường Nhật Bản đã được nhiều tác giả trong nước và trên thế giới quan tâm.
Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu từ phía thị trường Nhật Bản với mặt hàng thủy sản ngày càng cao thể hiện rõ bằng sự gia tăng rào cản kỹ thuật cả về số lượng, mức độ phức tạp và tần suất. Xu hướng áp dụng các rào cản kỹ thuật tại thị trường Nhật Bản còn chưa được quan tâm nghiên cứu làm rõ. Các nghiên cứu để thúc đẩy xuất khẩu thủy sản vào thị trường Nhật Bản không chỉ giới hạn ở các tiêu chí đánh giá về kết quả xuất khẩu mà còn cần được bổ sung và kết hợp các tiêu chí về lợi thế xuất khẩu và các biện pháp ứng phó với sự gia tăng các rào cản kỹ thuật của thị trường nhập khẩu thủy sản. Trong bối cảnh mới hiện nay cần có những nghiên cứu có hệ thống và cập nhật về nhận dạng, đánh giá tác động của các rào cản kỹ thuật đối với hàng thủy sản Việt Nam vào thị trường Nhật Bản.
Từ những luận cứ trên, đề tài “Xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Nhật Bản trong bối cảnh gia tăng các rào cản kỹ thuật” được NCS lựa chọn là đề tài luận án nhằm đề xuất các giải pháp giúp các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam nhận diện và thích ứng được với các rào cản kỹ thuật được sử dụng ngày càng nhiều, với mức độ ngày càng cao tại thị trường Nhật Bản; từ đó tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Nhật Bản. Tổng quan nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu 2. Nghiên cứu về xuất khẩu và xuất khẩu thủy sản Các nghiên cứu về xuất khẩu và các phương thức xuất khẩu Xuất khẩu là một hình thức kinh doanh quốc tế được các doanh nghiệp lựa chọn để mở rộng thị trường tiêu thụ ra bên ngoài thị trường nội địa. Hiểu một cách đơn giản, xuất 4 khẩu được hiểu là sản phẩm hoặc dịch vụ được sản xuất ở một quốc gia nhưng được bán cho người mua ở nước ngoài.
Tiếp cận dưới góc độ thương mại quốc tế, Bishop (2006) nhận định xuất khẩu là phương thức tham gia vào thương mại quốc tế khi các nhà đầu tư bán hàng trực tiếp đến người tiêu dùng cuối cùng thông qua một trung gian đặt ở nước ngoài. Bên cạnh đó, tiếp cận theo góc độ vĩ mô, xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ một quốc gia hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ quốc gia đó nơi được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật, theo Điều 28, Khoản 1 của Luật Thương mại được Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành số 36/2005/QH11, ngày 14 tháng 6 năm 2005. Xuất khẩu được chia ra làm nhiều phương thức khác nhau. Tùy thuộc vào các cách tiếp cận, xuất khẩu được chia ra các phương thức khác nhau.
Xem xét dưới góc độ tổng quát, Doãn Kế Bôn, Lê Thị Việt Nga (2021) đã cung cấp các phương thức xuất khẩu: xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián tiếp thông qua các trung gian thương mại. Một số tác giả đã nghiên cứu cụ thể hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Hoàng Khánh Dư (2007) khái quát hai hình thức hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường thế giới: xuất qua các công ty thương mại hoặc công ty nhập khẩu và xuất qua một số thị trường trung gian trong chuyên đề tốt nghiệp. Nghiên cứu cụ thể một số thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam, Trần Thị Nhung (2005) đã chỉ ra các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam đang xuất khẩu vào các thị trường lớn như Nhật Bản, Hoa Kỳ và EU thông qua các đại diện thương mại của Việt Nam ký kết hợp đồng với các tổ chức cung ứng thực phẩm cho các trung tâm phân phối, siêu thị của các thị trường này.
Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản đang từng bước phát triển hình thức xuất khẩu trực tiếp cho các hệ thống.