CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LY LUẬN VE RAO CAN PHI THUÊ QUAN TRONG THƯƠNG MAI QUOC TE 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về rào can phi thuế quan 1. Các công trình nghiên cứu về rào can phi thué quan trong thương mại quốc tế Ở nước ngoài, đã có những công trình nghiên cứu khoa học về vai trò của các rào cản phi thuế quan áp dụng trong thương mại quốc tế nói chung. Có thé kế đến các đề tài phân tích khía cạnh pháp lý của các rào cản phi thuế quan, trong đó tập trung chủ yếu vào việc phân tích mức độ phù hợp của các rào cản này đối với quy định về đãi ngộ quốc gia của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Chang hạn như nghiên cứu “National treatment obligations and non-tariff barriers” (Nghĩa vụ đãi ngộ quốc gia và các rào cản phi thuê), John H. Jackson (1989) đã phan tích cụ thể một số vụ tranh chấp thương mại liên quan đến các rào cản phi thuế quan. Hoặc các báo cáo đánh giá chính sách của một số nước (Hoa Kỳ, EU,.) liên quan đến các rào cản ph thuế quan của Nhật Bản. Trong số này có “National Trade Estimate Report on Foreign Trade Barriers” (Báo cáo quốc gia về các rào cản ngoại thương) của Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa kỳ (USTR).
Đây là bảo cáo thường niên của USTR liệt kê một số biện pháp thuế quan và phi thuế quan của các nước mà Hoa Kỳ cho rằng là rào cản hoặc có khả năng là rào cản đối với thương mại của Hoa Kỳ. EU cũng có một cơ sở dữ liệu về các rào cản phi thuế quan của các nước, trong đó có Nhật Bản. Nhìn chung, các báo cáo đánh giá này cũng mới chỉ mang tính chất liệt kê, tập trung chủ yếu vào những ngành hàng mà nước tiến hành đánh giá có thế mạnh xuất khẩu, chưa đi sâu vào phân tích các quy định cũng như không đưa ra các kiến nghị, giải pháp tháo gỡ rào cản phù hợp với bôi cảnh, điêu kiện riêng của Việt Nam. 7 Ở trong nước, đã có những công trình nghiên cứu khoa học (đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, luận án Tiến sỹ, luận văn Thạc sỹ, kỷ yếu hội thảo quốc tế, trong nước.) đề cập đến luận cứ khoa học về các rào cản phi thuế quan của Nhật Bản đối với các nhóm hàng xuất khâu của Việt Nam, đặc biệt là mặt hàng thủy sản.
Có thé kể ra một số công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài nhóm tác giả đang triển khai như: Cuốn sách “Đáp ứng rào cản phi thuế quan để đẩy mạnh xuất khẩu bên vững hàng thủy sản Việt Nam ”- GS, TS. Đỗ Đức Bình và TS. Bùi Huy Nhượng — Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2009; Luận văn “Rdo cản phi thué quan của Nhật Bản và tác động tới hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường nay” — Chu Lan Hương, Đại học Ngoại thương, 2011; Luận án “Các biện pháp vượt rào cản phi thué quan trong thương mại quốc té nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam” — Dao Thi Thu Giang, Dai học ngoại thương Hà Nội, 2009; Luận văn “Hàng rào phi thuế quan Nhật Bản doi với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam” — Bùi Thi Vân, Đại học Kinh tế quốc dân, 2012, v. Các công trình nghiên cứu về tác động của rào cản phi thuế quan doi với một số mặt hàng Nhiều băng chứng cho thấy tác động của rào cản phi thuế quan hoàn toàn khác biệt giữa các nhóm hàng hóa.
“Trong đó, nông nghiệp luôn là lĩnh vực nhạy cảm và chịu tác động lớn hơn từ việc áp đặt rào cản phi thuế quan so với các nhóm ngành sản xuất khác. Nghiên cứu của Moenius (2004) sử dụng mô hình trọng lực hấp dẫn dé đánh giá tác động của các tiêu chuẩn kỹ thuật trong thương mại với bộ số liệu bao phủ 471 ngành theo phân loại SITC ở cấp độ 4 chữ số trong dòng thương mại song phương của 12 nước phát triển. Kết quả cho thấy các tiêu chuẩn chỉ áp dụng đối với hàng xuất khâu mang lại tác động tiêu cực cho hoạt động xuất khâu các sản phẩm phi sản xuất như thực phâm, đồ uống, nguyên nhiên liệu thô và khóang sản), ngược lại có tác động tích cực đối với nhập khẩu các nhóm hàng sản xuất như dau, hóa chất, máy móc thiết bị. Theo tác giả, các tiêu chuẩn kỹ thuật giúp cung cấp cho nhà xuất khâu các thông tin hữu ích về thị hiếu thị trường, giảm các chi phí giao dịch ngay cả khi họ phải chi trả thêm các chi phí đáp ứng tiêu chuẩn.
Hơn nữa, đối với các ngành chuyên biệt (như ngành công nghệ cao), chi phí thông tin thường cao hơn. Do đó, tác động từ việc giảm chi phí thông tin sẽ vượt trội so với tác động từ việc tăng chi phí đáp ứng tiêu chuẩn, vì vậy, tong giá trị thương mại sẽ tăng lên”. Nghiên cứu của Melo và cộng sự (2014) phân tích tác động của các biện pháp SPS và TBT đến hoa quả nhập khẩu từ Chile. “Trong đó tác giả đã sử dụng biến đại diện cho hai biện pháp trên là chỉ số đo lường tính nghiêm ngặt theo đánh giá của doanh nghiệp.
Chỉ số này được thu thập dựa trên phương pháp định tính gồm phỏng vấn sâu chuyên gia để xác định những vướng mac của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các biện pháp nêu trên. Kết quả cho thấy việc tăng tính nghiêm ngặt trong áp dụng các quy định tiêu chuẩn thuộc SPS và TBT sẽ có tác động tỉ lệ nghịch đối với giá trị xuất khẩu. Nghiên cứu này không chỉ đánh giá tác động tổng thé của biện pháp SPS và TBT theo chỉ số tổng hợp về tính nghiêm ngặt, mà còn chỉ ra tác động một cách đa chiều thông qua chỉ số giới hạn dư lượng tối đa (MRL), GAP, tiêu chuẩn chất lượng. Kết qua cho thấy tac động từ các nước nhập khẩu là nước phát triển lớn hơn nhiều so với các nước đang phát triển”.
Trong nhiều nghiên cứu khác, biện pháp SPS và TBT được đưa vào định lượng dựa trên số liệu về các lô hàng bị giữ lại hoặc từ chối của các nhà xuất khâu như một biến giải thích (Grant và Anders, 2010) nhằm phân tích sự định hướng lại trong thương mại thủy sản dựa trên các biện pháp kiểm dịch vệ sinh khắt khe của Hoa Kỳ. “Theo dòng nghiên cứu về tác động tiêu cực của RCPTQ đối với thủy sản xuất khâu, các nghiên cứu chủ yếu sử dụng mức giới hạn dư lượng tối đa của các chất là chỉ số đại diện cho mức độ khắt khe mà các biện pháp SPS áp đặt lên hàng thủy sản nhập khâu. Theo TS Ngô Xuân Nam (2020), Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam, các quy định về an toàn thực phẩm, kiểm dịch động thực vật (biện pháp SPS) nhằm hướng tới mục tiêu bảo vệ sức khỏe con người và động, thực vật khỏi những nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh qua đường thương mại quốc tế”. Các công trình nghiên cứu về rào cản phi thué quan của Nhật Bản đối với hang hóa xuất khẩu của Việt Nam “Một nghiên cứu nổi bật của Dinh Văn Thanh (2006) về “Cac RCPTQ đối với hàng nông sản trong thương mại Việt Nam và Nhật Bản” nghiên cứu việc áp dụng RCPTQ để bảo hộ hàng nông sản Việt Nam cho phù hợp với thông lệ Nhật Bản.
Nghiên cứu ủng hộ trường phái tự do hóa thương mại nhưng bảo hộ có chọn lọc, có điều kiện và có thời hạn, trên cơ sở rà soát quy định của Nhật Bản về RCPTQ và các thông lệ quốc tế có thể sử dụng trong việc bảo hộ hàng nông sản. Đây là một công trình nghiên cứu công phu có thành tựu trong việc rà soát các biện pháp phi thuế quan Việt Nam áp dụng với hàng nông sản và đánh giá sự tương thích với các cam kết trong Hiệp định nông nghiệp của Nhật Bản. Theo góc độ nghiên cứu tác động của biện pháp phi thuế quan, nghiên cứu Dao Thi Thu Giang (2008) đã đưa ra nhận định đánh giá các RCPTQ đang hiện hành tại các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam, từ đó đề xuất hướng giải pháp vượt rào cản phi thuế quan trong thương mại quốc tế nhằm day mạnh xuất khẩu hàng hóa Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa thể hiện rõ mối quan hệ giữa RCPTQ đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Nhật Bản, cũng như đo lường tác động cụ thé của biện pháp phi thuế quan.
10 Cũng theo hướng nghiên cứu đối với hoạt động xuất khâu, nghiên cứu của nhóm tác giả Đỗ Đức Bình và Bùi Huy Nhượng (2009) về “Đáp ứng rào can phi thuế 25 quan dé đây mạnh xuất khâu bền vững hàng thủy sản Việt Nam” đã đưa ra quan điểm về “rào cản phi thuế quan” và nhìn nhận từ góc độ tiếp cận thị trường của hàng xuất khâu Việt Nam sang Nhật Bản, khả năng vượt qua được các rào cản phi thuế quan tại các thị trường Nhật Bản”. Khoảng trắng nghiên cứu Qua quá trình tổng quan nghiên cứu trong nước va nước ngoài, tác giả nhận thấy “các nghiên cứu về tác động của các RCPTQ đến thương mại được đề cập một cách đa dạng với nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau. Bên cạnh đó, một số vấn đề chưa được đề cập đến như sau: Thứ nhất, nghiên cứu các RCPTQ đang tôn tại chỉ chú trọng cho mục đích tiếp cận thị trường xuất khâu từ góc độ nước đang phát triển. Thực tiễn cho thấy, các nước phát triển như Nhật Bản có thế mạnh và tinh vi hơn trong việc áp dung các biện pháp phi thuế quan.
Ngược lại, Nhật Bản chủ yếu tập trung vào việc đáp ứng các rào can phi thuế quan từ nước phát triển (các thị trường xuất khẩu chính). Từ thực tiễn đến rà soát tổng quan nghiên cứu cho thấy cần thiết phải nghiên cứu vai trò của RCPTQ trong chính sách thương mại quốc tế của các nước đang phát Nhật Bản. Vai trò và mức độ áp dụng RCPTQ tại Nhật Bản có tác động như thế nào đến dòng thương mại nói chung và có đem lại hiệu quả trong việc quản lý xuất khẩu của Việt Nam nói riêng. Nghiên cứu lựa chọn trường hợp Việt Nam trong việc xây dựng các RCPTQ dé quản lý nhóm hàng nông sản.
Bởi lẽ, nông sản là một hàng hóa nhạy cảm và có tốc độ tự do hóa thương mại chậm hơn so với các nhóm hàng hóa sản xuất. Hàng nông sản cũng là mặt hàng có lợi thế so sánh của Việt Nam và nhóm hàng xuất khâu chủ lực của Việt Nam trong cơ cấu hàng hóa xuất khâu.