Chương 1: Lý luận về các biện pháp bảo đảm, tài sản đảm bảo và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại các Tổ chức tín dụng Chương 2: Pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại các tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ninh Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại các tổ chức tín dụng tại Việt Nam 5 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM, TÀI SẢN BẢO ĐẢM VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. Tổng quan về các biện pháp bảo đảm trong hoạt động tín dụng 1. Khái niệm các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động tín dụng Việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự trước hết là dựa vào sự tự giác của các bên tham gia. Nhưng thực tế, không phải bất cứ ai khi tham gia giao dịch dân sự đều có thiện chí trong việc thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của mình.
Trong một quan hệ nghĩa vụ, người có quyền được chủ động yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của họ hoặc không được thực hiện một công việc nhất định; và chỉ khi nào công việc đó được thực hiện đúng thì người có quyền mới thực hiện được lợi ích của mình. Tuy nhiên, về cách thức thì biện pháp thực hiện nghĩa vụ dân sự và việc thực hiện hay không thực hiện như thế nào lại phụ thuộc vào hành vi của người có nghĩa vụ. Nói cách khác, quyền chủ động của người có quyền rơi vào thế bị động bởi phải phụ thuộc vào hành vi của người khác. Nhằm khắc phục tình trạng trên và tạo cho bên có quyền trong các quan hệ nghĩa vụ có được thế chủ động được hưởng quyền dân sự, pháp luật cho phép các bên có thỏa thuận đặt ra các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp đồng cũng như việc thực hiện các nghĩa vụ dân sự.
Thông qua các biện pháp này, người có quyền có thể chủ động tiến hành các hành vi của mình để có thể tác động trực tiếp đến tài sản của phía bên kia, nhằm thỏa mãn quyền lợi của mình khi đến thời hạn mà phía bên kia không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ. Trong pháp luật thực định Việt Nam, không có điều khoản nào đưa ra khái niệm các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Để bảo đảm cho quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng được thực hiện, Bộ luật dân sự năm 2015 đã ghi nhận 9 biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự tại Mục 7 chương 17 phần nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự (từ Điều 309 đến Điều 350). Điều 292 Bộ luật dân sự 2015 quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ gồm: cầm cố 6 tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữ tài sản.
Khi nghiên cứu về khái niệm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, xuất hiện một vài quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là một biện pháp dân sự có “tính dự phòng” nhằm thúc đẩy việc thực hiện đúng nghĩa vụ theo cam kết hoặc theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự còn có tính bắt buộc đối với tất cả các bên trong giao dịch và được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. Quan điểm khác lại cho rằng, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là loại trách nhiệm dân sự đặc biệt trong đó các bên có thể thỏa thuận phạm vi trách nhiệm, mức độ trách nhiệm và cả các biện pháp thực hiện, áp dụng; có thể tự mình thực hiện, áp dụng trách nhiệm đó.
Như vậy, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được hiểu theo 2 phương diện: - Phương diện khách quan: bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là sự quy định của pháp luật, cho phép các chủ thể trong giao dịch dân sự hoặc các quan hệ dân sự khác áp dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép để bảo đảm cho một nghĩa vụ chính được thực hiện đồng thời xác định và bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các bên trong các biện pháp đó. - Phương diện chủ quan: bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là việc thỏa thuận giữa các bên nhằm đặt ra các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ, đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra. Tóm lại, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là sự thỏa thuận của các bên trong việc lựa chọn và áp dụng một hoặc một số biện pháp nhất định nhằm bảo đảm quan hệ nghĩa vụ mà họ đang tham gia. Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là các phương thức dự phòng, do các bên chủ thể thỏa thuận lựa chọn hoặc phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định để bảo đảm lợi ích của bên có quyền bằng cách cho phép bên có quyền được xử lý những tài sản thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ để khấu trừ giá trị nghĩa vụ trong trường hợp nghĩa vụ đó bị vi phạm.
Các biện pháp này góp phần bảo đảm cho các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp 7 đồng được thực hiện, nói cách khác bảo đảm cho các quan hệ hợp đồng được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và đúng thỏa thuận đặt ra. Đây chính là một trong những cơ sở để xây dựng một xã hội ổn định và phát triển về mọi mặt. Phân loại và đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động tín dụng Bộ luật dân sự 2015 quy định 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự tại điều 292 bao gồm: Thế chấp tài sản, bảo lãnh, cầm cố tài sản, đặt cọc, kí cược, kí quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, tín chấp và cầm giữ tài sản. So với bộ luật dân sự 2005, BLDS 2015 bổ sung thêm hai biện pháp bảo đảm mới là: bảo lưu quyền sở hữu và cầm giữ tài sản.
Phạm vi chế định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong BLDS 2015 bao trùm cả các biện pháp bảo đảm đối vật (cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, cầm giữ tài sản) và biện pháp bảo đảm đối nhân (bảo lãnh, tín chấp). Chế định cũng điều chỉnh cả các biện pháp bảo đảm được xác lập trên cơ sở thỏa thuận và biện pháp bảo đảm phát sinh do luật định. Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm đối vật phát sinh theo thỏa thuận là xác lập một vật quyền của bên nhận bảo đảm trên tài sản bảo đảm thông qua hợp đồng, vì vậy quyền của bên nhận bảo đảm bằng tài sản mang tính chất phức hợp: vừa có tính chất vật quyền, vừa có tính chất trái quyền. Tính chất vật quyền được thể hiện ở hai điểm: - Thứ nhất, khi xảy ra sự kiện vi phạm của bên có nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng bảo đảm, bên nhận bảo đảm được thực thi quyền trực tiếp trên tài sản bảo đảm (quyền xử lý tài sản bảo đảm) mà không phụ thuộc vào ý chí của bên bảo đảm (không cần sự đồng ý, hợp tác của bên bảo đảm).
Vật quyền bảo đảm cho phép chủ thể thực hiện quyền của mình đối với tài sản ngay cả khi tài sản đó đang thuộc sự chiếm hữu của chủ thể khác. Như vậy, giống như các vật quyền khác, vật quyền bảo đảm cho phép người có quyền đối vật được phép thực hiện quyền của mình trên vật bất kể vật đang nằm trong tay ai. - Thứ hai, tuy quyền của bên nhận bảo đảm được xác lập trên cơ sở hợp đồng giao dịch bảo đảm, nhưng nó không chỉ có hiệu lực giữa hai bên trong hợp đồng, mà còn có hiệu lực đối kháng với bên thứ ba không tham gia vào giao dịch bảo đảm khi 8 thỏa mãn các điều kiện nhất định. Điều này có nghĩa, khi vật quyền bảo đảm đã được công khai với bên thứ ba (thông qua cơ chế đăng ký hoặc chiếm giữ tài sản) thì quyền ưu tiên chính thức được xác lập lên tài sản, mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể nhận bảo đảm sau.
Như vậy, khi vật quyền đã được xác lập hợp pháp thì tất cả các chủ thể, dù với tư cách nào cũng phải tôn trọng quyền năng của người có vật quyền đã được xác lập hợp pháp, phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định. Trong khi đó, bản chất của biện pháp bảo đảm đối nhân (bảo lãnh, tín chấp) là có thêm một bên thứ ba cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Trong trường hợp này, mức độ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được xem xét theo nhiều phương diện như về tư cách, độ tin cậy và khả năng của bên thứ ba này. Bên nhận bảo đảm không xác lập một vật quyền nào trên tài sản cụ thể của bên bảo đảm, do đó không đặt ra vấn đề xử lý tài sản của bên bảo lãnh hay thứ tự ưu tiên giữa bên nhận bảo lãnh với bên nhận bảo đảm bằng tài sản.
Với bản chất là một tổ chức kinh tế đặc thù có chức năng kinh doanh tiền tệ, các tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh của mình thông qua các quan hệ tín dụng, từ các quan hệ này mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với các tổ chức, cá nhân được thiết lập và phát triển, gắn các tổ chức tín dụng gần với các hoạt động sản xuấ kinh doanh trong xã hội. Nếu không có những thiết chế cơ bản để bảo đảm các khoản tiền vay và cho vay hiệu quả, các tổ chức tín dụng sẽ tự đặt mình trước những rủi ro khó lường đối với một loại hàng hóa đặc biệt vốn dĩ đã chứa đựng rất nhiều rủi ro.