Tổng quan nghiên cứu

Hạ tầng viễn thông hiện đại đóng vai trò huyết mạch trong nền kinh tế số với hàng chục nghìn trạm thu phát sóng di động (BTS) trải rộng trên toàn quốc nhằm đáp ứng nhu cầu truyền tải dữ liệu tốc độ cao từ mạng 4G đến 5G. Trong hệ thống này, các trụ anten dạng tháp dây co thanh mảnh có chiều cao phổ biến từ 30 m đến hơn 60 m giữ vai trò duy trì hoạt động thông suốt cho các thiết bị truyền thông. Sự ổn định và độ thẳng đứng của thân trụ phụ thuộc hoàn toàn vào lực căng đồng đều của 3 cụm dây co néo giữ tại các góc chịu lực. Tuy nhiên, trong suốt chu kỳ khai thác thực tế, lực căng cáp liên tục bị suy giảm do hiện tượng từ biến, co ngót vật liệu kim loại và tác động lặp của tải trọng gió bão. Theo các khảo sát thực nghiệm chuyên ngành, lực căng trong các kết cấu cáp dự ứng lực có thể bị hao tổn khoảng 7% ngay trong 6 năm đầu vận hành. Nếu sự suy giảm này vượt quá giới hạn an toàn cho phép mà không được can thiệp kịp thời, trụ anten sẽ bị mất ổn định cục bộ, nghiêng lệch thân tháp hoặc thậm chí sụp đổ hoàn toàn, gây gián đoạn thông tin liên lạc và thiệt hại nghiêm trọng về tài sản.

Trước thực trạng phương pháp kiểm tra thủ công bằng mắt thường hoặc dùng thiết bị đo cơ học chỉ mang tính định tính và cục bộ tại một điểm, luận văn thạc sĩ kỹ thuật xây dựng tập trung nghiên cứu giải pháp chẩn đoán chính xác tổn hao lực căng cáp cho trụ anten bằng phương pháp đáp ứng trở kháng cơ - điện kết hợp mạng nơ-ron nhân tạo (ANN) có khảo sát độ nhạy miền tần số. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện dựa trên cấu trúc tăng đơ neo cáp của trạm BTS Cà Mau 333 cùng các mô hình thực nghiệm tiêu chuẩn trong giai đoạn từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 12 năm 2022. Công trình mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi kiểm soát sai số dự báo lực căng duy trì ở mức dưới 3%, cung cấp giải pháp quan trắc sức khỏe công trình (SHM) không phá hủy, liên tục và tự động hóa với chi phí tối ưu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên 2 nền tảng lý thuyết cốt lõi: lý thuyết ghép nối cơ - điện (EMI) của vật liệu áp điện gốm Lead Zirconate Titanate (PZT-5A) và mô hình tương tác động lực học 2 bậc tự do giữa cảm biến, tấm tương tác trung gian và kết cấu chủ. Theo phương trình cấu tạo áp điện 3 chiều, mối quan hệ tương hỗ giữa véc-tơ biến dạng cơ học, véc-tơ cảm ứng điện và ten-xơ ứng suất giúp chuyển đổi sự thay đổi độ cứng động của kết cấu thành sự biến thiên của tín hiệu trở kháng điện. Cảm biến PZT-5A được đặc trưng bởi hằng số ghép nối điện môi d31 đạt -173x10^-12 C/N cùng khối lượng riêng 7750 kg/m3.

Khái niệm trung tâm thứ hai là mô hình dao động 2 bậc tự do với tấm tương tác nhôm có tạo khoảng hở linh hoạt. Khác với mô hình dán trực tiếp 1 bậc tự do có tần số cộng hưởng rất cao vượt quá 150-400 kHz, mô hình 2 bậc tự do giúp khuếch đại biến dạng tiếp xúc và tập trung các đỉnh dao động chính vào dải tần số thấp từ 10 kHz đến 100 kHz. Mức độ hư hỏng được định lượng thông qua chỉ số thống kê căn bậc hai bình phương độ lệch trung bình (RMSD). Dữ liệu trở kháng sau đó được xử lý qua mạng nơ-ron nhân tạo Perceptron nhiều lớp (MLP) với các thuật toán học có giám sát để nhận diện chính xác mức độ tổn hao lực căng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu phân tích được thiết lập thông qua mô phỏng phần tử hữu hạn 3D solid trên phần mềm đa vật lý COMSOL Multiphysics phiên bản 5.2 kết hợp công cụ Neural Networks trong phần mềm IBM SPSS Statistics 26. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 901 bước số liệu tần số rời rạc trải dài từ 10 kHz đến 100 kHz với bước quét chi tiết 0.1 kHz. Phương pháp chọn mẫu phân tầng được áp dụng trên 5 cấu hình vị trí đặt cảm biến và 5 cấp độ tổn hao lực căng cáp từ trạng thái nguyên vẹn đến tổn hao 50% tải trọng thiết kế.

Tập dữ liệu trở kháng thu thập được phân chia thành 70% dành cho tập huấn luyện và 30% cho tập kiểm tra độc lập. Lý do lựa chọn mô hình mạng nơ-ron MLP là nhằm khắc phục triệt để tính phi tuyến và độ nhiễu ngẫu nhiên của tín hiệu trở kháng khi làm việc ngoài hiện trường. Quá trình huấn luyện sử dụng thuật toán tối ưu hóa Gradient liên hợp với luật dừng khi độ giảm sai số nhỏ hơn 10^-7 sau 100 lần lặp liên tiếp. Toàn bộ tiến trình mô phỏng số, khảo sát độ nhạy miền tần số và kiểm chứng thuật toán được hoàn thành trọn vẹn trong khung thời gian 16 tháng nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc kiểm chứng mô phỏng số với dữ liệu thực nghiệm trên 4 mẫu tấm tương tác nhôm có bề rộng biến thiên từ 18 mm đến 33 mm đã chứng minh độ chính xác rất cao của mô hình phần tử hữu hạn. Tín hiệu trở kháng mô phỏng xuất hiện rõ nét 2 đỉnh dao động chính tương thích hoàn toàn với thực nghiệm: đỉnh 1 dao động uốn trong mặt phẳng ở dải 13-17.4 kHz và đỉnh 2 dao động uốn ngoài mặt phẳng ở dải 30-70 kHz, sai số tần số đỉnh giữa mô phỏng và thực tế duy trì ở mức dưới 2.5%.

Thứ hai, trong 5 vị trí khảo sát cảm biến trên tăng đơ neo cáp, mô hình tấm tương tác khuyết lỗ đặt tại mặt phẳng ngoài của bản neo cho độ nhạy tín hiệu trở kháng vượt trội nhất. Khi lực căng cáp suy giảm dần từ 100% xuống 50%, chỉ số hư hỏng RMSD tại vị trí này tăng trưởng mạnh và thể hiện tính đơn điệu rõ ràng nhất, tạo điều kiện lý tưởng cho việc nhận dạng hư hại.

Thứ ba, chương trình khảo sát độ nhạy miền tần số đã xác định được dải tần số nhạy tối ưu tập trung từ 30 kHz đến 60 kHz. Mạng nơ-ron nhân tạo MLP sử dụng cấu hình 2 lớp ẩn với hàm truyền Sigmoid và hàm đầu ra Hyperbolic Tangent đạt hiệu quả chẩn đoán cao nhất, ghi nhận sai số dự báo trung bình chỉ 1.8% đối với tập dữ liệu huấn luyện và 3.15% đối với tập dữ liệu kiểm tra chưa từng tiếp xúc.

Thứ tư, khảo sát tối ưu hóa vật liệu và kích thước cho thấy tấm tương tác bằng nhôm với chiều dày 1.0-1.2 mm kết hợp tấm PZT-5A kích thước 15x15x0.51 mm mang lại biên độ trở kháng và chỉ số RMSD cao hơn hẳn so với vật liệu thép, nhựa PP hay composite CFRP.

Thảo luận kết quả

Bản chất vật lý của sự biến đổi tín hiệu trở kháng bắt nguồn từ việc suy giảm lực kéo dọc trục trong dây cáp làm thay đổi ứng suất nén cục bộ tại các điểm tiếp xúc của bu lông và chốt neo tăng đơ, kéo theo sự thay đổi độ cứng động của toàn hệ thống. So với phương pháp dán trực tiếp truyền thống vốn làm tín hiệu bị phân tán ở dải tần số siêu cao trên 150 kHz, việc bổ sung tấm tương tác có khoảng hở đã tạo nên một bộ cộng hưởng cơ học trung gian, đưa vùng phản ứng nhạy cảm về dải tần 10-100 kHz.

Toàn bộ dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua các đường cong phổ trở kháng phần thực Re(Z) theo tần số kích thích, biểu đồ cột so sánh mức độ tăng trưởng chỉ số RMSD qua từng cấp tổn hao lực căng, và bảng tổng hợp ma trận sai số chẩn đoán giữa 6 tổ hợp hàm truyền khác nhau. Kết quả này chứng minh rằng việc kết hợp miền tần số nhạy 30-60 kHz với thuật toán học máy giải quyết triệt để bài toán nhận dạng tổn thất lực căng mà không phụ thuộc vào các hàm hồi quy tuyến tính đơn giản vốn dễ sai lệch khi có tác động từ môi trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuyển giao hiệu quả kết quả nghiên cứu vào công tác quản trị và bảo trì công trình hạ tầng viễn thông, 4 giải pháp trọng tâm được đề xuất như sau:

  • Tiêu chuẩn hóa quy trình chế tạo và lắp đặt cảm biến: Tiến hành ban hành sổ tay hướng dẫn kỹ thuật gắn tấm tương tác nhôm kích thước 15x15x0.51 mm lên mặt phẳng bản neo tăng đơ cáp với sai số định vị cơ học dưới 1 mm, hoàn thiện bộ quy chuẩn kỹ thuật trong vòng 6 tháng tới do các kỹ sư kết cấu và phòng kỹ thuật hạ tầng đảm nhiệm.
  • Tích hợp giải thuật mạng nơ-ron lên thiết bị đo IoT biên: Lập trình nhúng cấu trúc mạng MLP đã tối ưu với hàm truyền Sigmoid - Hyperbolic Tangent vào các vi điều khiển tiêu thụ điện năng thấp, thực hiện quét tín hiệu trở kháng tự động trong dải tần 30-60 kHz với chu kỳ 24 giờ một lần nhằm duy trì sai số cảnh báo dưới 3%, triển khai thử nghiệm diện hẹp trong 12 tháng bởi các nhóm nghiên cứu công nghệ SHM.
  • Thiết lập quy trình bảo trì và cập nhật cơ sở dữ liệu định kỳ: Thực hiện đo đạc và tái hiệu chuẩn đường cơ sở trở kháng định kỳ 3-6 tháng một lần đối với các trạm BTS vùng ven biển chịu gió bão lớn và 12 tháng một lần đối với trạm khu vực đồng bằng, do các đơn vị quản lý vận hành mạng viễn thông chủ trì.
  • Xây dựng khung ngưỡng cảnh báo an toàn cấp ngành: Tham mưu cho các cơ quan quản lý ban hành quy định ngưỡng dừng hoạt động khi lực căng cáp tổn thất vượt quá 15% tải trọng thiết kế trong vòng 2 năm tới, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người dân và công trình lân cận.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Doanh nghiệp viễn thông và đơn vị quản lý hạ tầng trạm BTS: Ứng dụng giải pháp quan trắc trở kháng tự động để giám sát đồng loạt mạng lưới tháp truyền thông, giúp cắt giảm hơn 40% chi phí kiểm định thủ công và phòng ngừa rủi ro đổ gãy trụ anten trước mùa mưa bão.
  • Kỹ sư kết cấu và chuyên gia kiểm định công trình: Khai thác mô hình tương tác cơ - điện 2 bậc tự do và quy trình mô phỏng COMSOL để áp dụng đánh giá sức khỏe cho các hệ kết cấu sử dụng dây cáp neo như cầu treo, mái vòm dây võng và dầm bê tông cốt thép dự ứng lực.
  • Nhà nghiên cứu và học viên cao học ngành Kỹ thuật Xây dựng và Cơ điện tử: Sử dụng luận văn như tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp khảo sát độ nhạy miền tần số kết hợp thuật toán trí tuệ nhân tạo trong xử lý tín hiệu chẩn đoán hư hỏng kết cấu không phá hủy.
  • Doanh nghiệp sản xuất thiết bị đo lường và cảm biến thông minh: Tận dụng các thông số thiết kế tối ưu về vật liệu PZT-5A và tấm tương tác nhôm để phát triển các modul cảm biến thương mại nhỏ gọn, có giá thành sản xuất cạnh tranh dưới 50 USD cho mỗi điểm đo.

Câu hỏi thường gặp

  • Phương pháp trở kháng cơ - điện (EMI) hoạt động như thế nào trong việc giám sát lực căng cáp? Phương pháp EMI sử dụng cảm biến áp điện PZT dán trên kết cấu và kích hoạt bằng điện áp xoay chiều 1 V. Do hiệu ứng áp điện thuận nghịch, sự thay đổi lực căng từ 100% xuống 50% làm biến đổi độ cứng động của tăng đơ, từ đó làm thay đổi tín hiệu trở kháng điện. Chỉ số RMSD được dùng để định lượng chính xác mức độ thay đổi này.

  • Tại sao cần sử dụng tấm tương tác thay vì dán trực tiếp cảm biến PZT lên thân trụ hay dây cáp? Dán trực tiếp cảm biến lên kết cấu lớn đẩy các đỉnh tần số cộng hưởng lên dải siêu cao trên 150-400 kHz, gây khó khăn cho thiết bị thu phát không dây. Tấm tương tác nhôm tạo thành hệ dao động 2 bậc tự do, giúp khuếch đại biến dạng và đưa dải tần số nhạy về miền 10-100 kHz, nâng cao độ ổn định đo lường.

  • Dải tần số 10-100 kHz mang lại ưu thế kỹ thuật gì cho hệ thống quan trắc? Dải tần 10-100 kHz cho phép quét chi tiết 901 điểm dữ liệu với bước nhảy 0.1 kHz mà không bị ảnh hưởng bởi rung động môi trường tần số thấp dưới 5 kHz. Đồng thời, miền tần số này giúp tiết kiệm năng lượng xử lý và hoàn toàn tương thích với các modul cảm biến không dây hiện đại.

  • Mạng nơ-ron nhân tạo ANN đóng vai trò gì trong việc xử lý tín hiệu trở kháng? Tín hiệu trở kháng ngoài hiện trường thường chứa nhiễu ngẫu nhiên và có quan hệ phi tuyến phức tạp. Mạng nơ-ron MLP tiếp nhận phổ trở kháng trong dải tần nhạy 30-60 kHz, tự động học các đặc trưng biến đổi để dự báo mức tổn hao lực căng với độ chính xác cao, duy trì sai số kiểm tra thực tế dưới 3.2%.

  • Giải pháp đề xuất có khả năng triển khai thực tế trên diện rộng hay không? Giải pháp có tính khả thi thương mại rất cao nhờ sử dụng cảm biến PZT-5A giá rẻ, tấm nhôm gia công đơn giản và không làm suy giảm khả năng chịu lực của công trình. Hệ thống có thể tích hợp trực tiếp vào các trạm quan trắc tự động để giám sát từ xa hàng nghìn tháp anten.

Kết luận

  • Thiết lập thành công mô hình số phần tử hữu hạn 3D mô phỏng chính xác đáp ứng trở kháng cơ - điện với sai số tần số đỉnh dưới 2.5% so với thực nghiệm quốc tế.
  • Xác định vị trí lắp đặt cảm biến tối ưu tại mặt ngoài bản neo tăng đơ cáp của trụ anten trạm BTS Cà Mau 333, cho độ nhạy chỉ số RMSD cao nhất.
  • Đề xuất quy trình khảo sát và định vị chính xác dải tần số nhạy trọng tâm 30-60 kHz trong toàn bộ miền quét 10-100 kHz.
  • Xây dựng mô hình mạng nơ-ron nhân tạo MLP đạt độ chính xác chẩn đoán vượt trội với sai số dự báo lực căng trung bình duy trì dưới 2%.
  • Xác lập bộ thông số hình học và vật liệu tối ưu cho tấm tương tác nhôm dày 1.0-1.2 mm kết hợp cảm biến gốm PZT-5A kích thước 15x15x0.51 mm.

Công trình tạo nền tảng công nghệ vững chắc cho việc tự động hóa công tác bảo trì công trình tháp viễn thông. Trong lộ trình 12 đến 24 tháng tới, việc triển khai thử nghiệm diện rộng tại các trạm BTS thực địa cần được đẩy mạnh để sớm thương mại hóa sản phẩm. Các đơn vị quản lý hạ tầng viễn thông và xây dựng hãy chủ động liên hệ và ứng dụng giải pháp quan trắc thông minh này nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hệ thống công trình trong kỷ nguyên số.