phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm 02 chương: Chƣơng 1: Khái quát về vi bằng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Chƣơng 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về vi bằng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và kiến nghị hoàn thiện. 6 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ VI BẰNG TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ 1. Khái quát về Thừa phát lại và vi bằng 1.
Khái niệm và đặc điểm của Thừa phát lại 1. Khái niệm Thừa phát lại Thừa phát lại là một từ Hán Việt cổ, tiếng Anh gọi là “Bailiff”, tiếng Pháp gọi là “Huissier”. Nghĩa trong tiếng Việt: Thừa – Thừa hành hay thừa lệnh, phát – cấp phát hay tống đạt, lại – một viên quan bậc thấp hay thư ký của quan, Thừa phát lại tức là thừa hành mệnh lệnh của quan lại để thực hiện việc cấp phát, tống đạt giấy tờ, văn bản. Đào Duy Anh (1957) nhận định “Thừa phát lại là người thuộc lại ở Tòa án sơ cấp hay Tòa án địa phương, giữ việc phát tống các văn thư, chấp hành điều phán quyết của tòa, hay là thu hồi một tài sản”1.
Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị định 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động Thừa phát lại: “Thừa phát lại là người có đủ tiêu chuẩn được Nhà nước bổ nhiệm để thực hiện tống đạt, lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án dân sự, tổ chức thi hành án dân sự theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan”. Thừa phát lại do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm khi đủ các tiêu chuẩn sau: Thứ nhất, là công dân Việt Nam không quá 65 tuổi, thường trú tại Việt Nam, chấp hành tốt Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt; Thứ hai, có bằng tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học chuyên ngành luật; Thứ ba, có thời gian công tác pháp luật từ 03 năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức sau khi đã có bằng tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học chuyên ngành luật; Thứ tư, tốt nghiệp khóa đào tạo, được công nhận tương đương đào tạo hoặc hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề Thừa phát lại; Thứ năm, đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Thừa phát lại. 1 Đào Duy Anh (1957), Từ điển Hán - Việt, Trường Thi, Sài Gòn. Đặc điểm của Thừa phát lại Việt Nam Nền kinh tế thị trường làm xã hội phát triển nhanh chóng, dẫn đến số lượng tranh chấp tăng vọt, trong khi hệ thống tư pháp quá tải bởi nhân sự chưa đầy đủ, phương tiện làm việc thiếu thốn, nên chậm trễ khi giải quyết yêu cầu của người dân là điều không tránh khỏi.
Cải cách tư pháp được thực hiện thường xuyên, trong đó việc hình thành một tổ chức với chức năng đảm nhiệm các phần không chuyên nhằm giảm tải áp lực cho các cơ quan tư pháp là cần thiết. Nguyễn Đức Chính (2006, 39) nhận định “Đây không chỉ mô hình hình thành trong thời kỳ của kinh tế thị trường, mà là mắt xích quan trọng trong tiến trình phát triển của xã hội, thuộc về văn minh loài người trong quá trình tổ chức đời sống xã hội”2. Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế cũng là một trong những cách thức để hoàn thiện nền tư pháp, thông qua việc học hỏi kinh nghiệm từ các nước tiên tiến, Việt Nam cũng đã và đang thực hiện nhiều cơ chế mới, nhận thấy sự phát triển của Thừa phát lại là tất yếu, khách quan. Từ thực tiễn trên, Nhà nước ta xây dựng và phát triển chế định Thừa phát lại.
Chế định Thừa phát lại đã đi vào hoạt động từ năm 2010. Tính đến 31/7/2022, Cục bổ trợ tư pháp (2022) cho biết hiện cả nước có 408 Thừa phát lại đang hành nghề tại 145 văn phòng Thừa phát lại trên 45 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương3. Sự trở lại của Thừa phát lại đánh dấu sự phát triển của pháp luật, phù hợp với tình hình xã hội trong giai đoạn mới. Hiện nay, Thừa phát lại có 06 (sáu) đặc điểm sau: Thứ nhất, Thừa phát lại đƣợc Nhà nƣớc bổ nhiệm nhƣng làm việc theo yêu cầu của ngƣời dân Thừa phát lại được bổ nhiệm khi đạt tiêu chuẩn nhất định.
Nhưng khác với cán bộ, công chức, nếu họ thực hiện công việc theo thủ tục hành chính, tố tụng thì 2 Nguyễn Đức Chính (2006), Tổ chức Thừa phát lại, Nhà xuất bản tư pháp, Hà Nội. 3 Cục bổ trợ Tư pháp (2022), Kết quả hoạt động của văn phòng Thừa phát lại, Hà Nội. 8 Thừa phát lại thực hiện công việc theo sự “triệu dụng” của người dân. Thừa phát lại thực hiện 04 (bốn) công việc sau: Một là lập vi bằng.
Lập vi bằng là việc Thừa phát lại ghi nhận sự kiện, hành vi có thật do mình trực tiếp chứng kiến4 nhằm tạo ra chứng cứ chính xác, kịp thời để người dân chủ động hơn trong việc tự bảo vệ quyền lợi của mình; Tòa án có cơ sở xem được tính đúng đắn của sự việc để xét xử công bằng, đúng pháp luật. Hai là tống đạt. Tống đạt là thông báo, giao nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu cho các chủ thể có liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền5. Hoạt động tống đạt của Thừa phát lại hỗ trợ rất nhiều trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, giảm nhẹ gánh nặng cho Thẩm phán, Chấp hành viên để họ tập trung thời gian, trí tuệ và sức lực vào chuyên môn là xét xử, thi hành án.
Thừa phát lại được đào tạo kỹ năng tống đạt chuyên nghiệp, thực hiện theo đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật thi hành án dân sự, giúp đẩy nhanh quá trình giải quyết vụ án cũng như thi hành án. Ba là xác minh điều kiện thi hành án dân sự. Xác minh điều kiện thi hành án là tìm kiếm, kh ng định các thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án làm căn cứ tổ chức thi hành án. Việc truy tìm tài sản có ý nghĩa nhất định vì là tiền đề đảm bảo bản án được thi hành trên thực tế, nhưng quá trình thực hiện công việc này gặp nhiều khó khăn.
Trong Giáo trình nghiệp vụ thi hành án dân sự - Tập 1 (2018, 91) nêu rõ, “quá trình xác minh trung bình chiếm đến quá nửa thời gian của một hồ sơ kể từ khi được Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự giao đến khi kết thúc hồ sơ6”. Để quá trình này được tiến hành nhanh hơn bởi một tổ chức độc lập khác, Nhà nước giao nhiệm vụ cho Thừa phát lại xác minh điều kiện thi hành án. 4 Điều 2 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP. 5 Điều 2 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.
6 Giáo trình Nghiệp vụ thi hành án dân sự - Tập 1 (2018), Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, trang 91. 9 Bốn là tổ chức thi hành án dân sự. Tổ chức thi hành án dân sự là thực hiện bản án trên thực tế, đây một khâu quan trọng trong quá trình thực thi pháp luật. Khi giao thẩm quyền này cho Thừa phát lại, cơ quan thi hành án dân sự giảm được số lượng công việc quá tải cần giải quyết, người dân có quyền lựa chọn một trong hai đơn vị để đảm bảo quyền lợi của mình.
Giao thẩm quyền tổ chức thi hành án dân sự cho Thừa phát lại cũng hình thành thế cạnh tranh giữa cơ quan nhà nước và tổ chức tư nhân, nhằm thúc đẩy quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo cho người dân được thụ hưởng thi hành pháp luật nhanh chóng, kịp thời. Trong các công việc vừa nêu ở trên, ngoài tống đạt, các công việc còn lại Thừa phát lại đều thực hiện trên cơ sở nhu cầu của người dân mà không phải là thủ tục bắt buộc. Đối với tống đạt, Thừa phát lại thực hiện theo đề nghị của Toà án trong phạm vi trách nhiệm được pháp luật quy định. Nhưng Thừa phát lại không phải là công chức tư pháp, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước, hoạt động không theo chế độ công vụ.
Mục đích hành nghề của Thừa phát lại là nhằm phục vụ công lý, phục vụ hoạt động tư pháp và bảo vệ quyền lợi của công dân trong đời sống xã hội. Thứ hai, Thừa phát lại không kiêm nhiệm chức danh tƣ pháp khác Theo báo cáo của Cục bổ trợ tư pháp (2022), tính từ 01/10/2021 đến 31/7/2022 các văn phòng Thừa phát lại trên cả nước đã lập được 128.761 vi bằng; tống đạt được 819.106 văn bản; xác minh điều kiện thi hành án được 2 vụ; thi hành án được 4 vụ7. Với nhiệm vụ Nhà nước giao và kết quả đạt được như vừa trình bày, có thể thấy khối lượng công việc Thừa phát lại thực hiện trên thực tế rất đa dạng, chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau. Chính vì vậy, quy định tính chuyên trách của Thừa phát lại là phù hợp, điều này nhằm đảm bảo chất lượng của hoạt động Thừa phát lại cũng như từng chức danh tư pháp khác.
7 Cục bổ trợ Tư pháp (2022), Kết quả hoạt động của văn phòng Thừa phát lại, Hà Nội. 10 Ngoài ra, do tính chất đặc thù, Thừa phát lại phải luôn khách quan và trung thực, việc kiêm nhiệm Luật sư, Công chứng viên,… không thể đảm bảo sự khách quan bởi mỗi chức danh đều có sự liên hệ nhất định với công việc của Thừa phát lại, ví dụ Luật sư sử dụng vi bằng do Thừa phát lại lập để làm chứng cứ, việc các bên thực hiện hợp đồng do Công chứng viên chứng nhận có thể được Thừa phát lại lập vi bằng… Thứ ba, Thừa phát lại thực hiện công việc mang quyền lực nhà nƣớc nhƣng tự chủ về tài chính Thừa phát lại thực hiện các công việc mang quyền lực nhà nước, các công việc này trước khi giao cho Thừa phát lại là trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bên cạnh đó, Thừa phát lại hành nghề phải chịu sự quản lý trực tiếp của Sở Tư pháp8 nơi đăng ký hoạt động và quản lý chung bởi Bộ Tư pháp9. Nhưng Khoản 4 Điều 17 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định Thừa phát lại không phải là công chức nhà nước, không làm việc theo giờ hành chính, không hưởng lương từ ngân sách mà hưởng thù lao từ chính hoạt động của mình.
Như vậy, tính chất “công – mang quyền lực công” và “tư – tự chủ tài chính” là hai mặt không tách rời đối với nghề Thừa phát lại.