phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của đề tài đƣợc chia làm ba chƣơng: Chƣơng 1: Khái quát về điều kiện sinh thái – nhân văn các tiểu vùng văn hóa Quảng Ninh và những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài Chƣơng 2: Văn học dân gian phản ánh điều kiện sinh thái – nhân văn vùng biển và ven biển Quảng Ninh Chƣơng 3: Văn học dân gian phản ánh điều kiện sinh thái – nhân văn vùng mỏ và vùng trung du – miền núi Quảng Ninh 13 7. Đóng góp của luận văn Trong khuôn khổ của một luận văn Thạc sĩ, với sự kế thừa một cách trân trọng thành tựu của ngƣời đi trƣớc, chúng tôi dự kiến luận văn có những đóng góp sau đây: - Khái quát một cách có hệ thống, chỉ ra những nét đặc trƣng về nội dung phản ánh và nghệ thuật trong văn học dân gian các tiểu vùng Quảng Ninh từ góc độ văn hóa và góc nhìn sinh thái. - Khảo sát và tìm hiểu để thấy đƣợc sự lƣu truyền, sức sống của văn học dân gian các tiểu vùng Quảng Ninh từ góc độ sinh thái – nhân văn qua một số tác phẩm cụ thể. 14 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN SINH THÁI – NHÂN VĂN CÁC TIỂU VÙNG VĂN HÓA QUẢNG NINH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.
Vài nét về điều kiện địa lý, lịch sử, xã hội tỉnh Quảng Ninh 1. Vị trí địa lý tỉnh Quảng Ninh Trong cuốn Đại Nam nhất thống chí có ghi chép về đất Quảng Ninh xƣa nhƣ sau: “Đất, nhận thế núi làm thành, dựa chỗ cao mà giữ hiểm, có núi để tựa, có biển vòng quanh, địa thế xa lánh mà hiểm yếu, trong thì giữ vững cương vực, ngoài thì khống chế đất Thanh. Núi cao có Lôi Âm, sông lớn có Bạch Đằng, 22 cửa biển, hơn 10 đồn ải, hải đảo quanh co, sông bến khuất khúc, cũng là nơi then chốt ở ven biển”. Nhƣ vậy, có thể khẳng định, Quảng Ninh từ xƣa đã là nơi đất trọng yếu, có địa hình đặc biệt đồng thời có vai trò to lớn trong việc gìn giữ biên cƣơng.
Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía Đông Bắc Việt Nam, có dáng của một hình chữ nhật lệch nằm chếch chéo theo hƣớng Đông Bắc – Tây Nam, có địa hình trung du, miền núi, ven biển. Tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, thuộc tam giác phát triển kinh tế (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh), nằm trên “hai hành lang 1, một vành đai kinh tế 2” Việt Nam - Trung Quốc. Quảng Ninh chạy dài từ 20040’ đến 21040’ vĩ độ Bắc; kinh độ Đông từ 106025’ đến 108025’. Tỉnh có diện tích tự nhiên khoảng 6.102,3 km2, có đƣờng biên giới trên biển gần 191 km và trên bộ 118,8 km, đồi núi chiếm 80% diện tích của tỉnh, đồng bằng nhỏ hẹp và chạy dọc ven biển.
Theo Cổng thông tin điện tử Quảng Ninh, vùng núi Quảng Ninh chia làm hai miền: Vùng núi miền Đông từ Tiên Yên qua Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà đến Móng Cái. Đây là vùng nối tiếp của vùng núi Thập Vạn Đại Sơn từ Trung Quốc, 15 hƣớng chủ đạo là đông bắc - tây nam. Có hai dãy núi chính: dãy Quảng Nam Châu (1.507m) và Cao Xiêm (1.330 m) chiếm phần lớn diện tích tự nhiên các huyện Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, dãy Ngàn Chi (1.166 m) ở phía bắc huyện Tiên Yên. Vùng núi miền tây từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, Hoành Bồ, phía bắc thị xã Uông Bí và thấp dần xuống ở phía bắc huyện Đông Triều.
Vùng núi này là những dãy nối tiếp hơi uốn cong nên thƣờng đƣợc gọi là cánh cung núi Đông Triều với đỉnh Yên Tử (1.068m) trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094 m) trên đất Hoành Bồ. Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những dải đồi thấp bị phong hoá và xâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống các triền sông và bờ biển. Đó là vùng Đông Triều, Uông Bí, bắc Yên Hƣng, nam Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và một phần Móng Cái. Ở các cửa sông, các vùng bồi lắng phù sa tạo nên những cánh đồng và bãi triều thấp.
Đó là vùng nam Uông Bí, nam Yên Hƣng (đảo Hà Nam), đông Yên Hƣng, Đồng Rui (Tiên Yên), nam Đầm Hà, đông nam Hải Hà, nam Móng Cái. Tuy có diện tích hẹp và bị chia cắt nhƣng vùng trung du và đồng bằng ven biển thuận tiện cho nông nghiệp và giao thông nên đang là những vùng dân cƣ trù phú của Quảng Ninh.(Cổng thông tin điện tử Quảng Ninh ) Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo. Hơn hai nghìn hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nƣớc (2078/ 2779), đảo trải dài theo đƣờng ven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp. Có những đảo rất lớn nhƣ đảo Cái Bầu, Bản Sen, lại có đảo chỉ nhƣ một hòn non bộ.
Có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô. Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình karst bị nƣớc bào mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài và trong lòng là những hang động kỳ thú. Nằm trong vùng văn hoá Bắc Bộ, cƣ dân Quảng Ninh có những đặc điểm điển hình của cƣ dân Bắc Bộ là cần cù, chịu khó, tính cộng đồng làng xã, họ tộc 16 rất cao. Ngoài ra, do những đặc điểm riêng về điều kiện địa lí, lịch sử, nghề nghiệp.
tính cách cƣ dân trong vùng cũng có những điểm khác biệt. Đó là sự mạnh mẽ, thẳng thắn, thô mộc và đơn giản trong cuộc sống. Họ biết tận dụng những điều kiện thiên nhiên để mƣu cầu cuộc sống. Do đời sống gắn liền với biển nên ngƣời dân nơi đây coi biển là nguồn sống, là ân nhân.
Bởi vậy, trong tiềm thức của ngƣời dân, đặc biệt là ngƣời dân vùng biển, hình ảnh những vị thần liên quan đến biển luôn luôn tồn tại. Tín ngƣỡng thờ thần biển cũng vì đó mà hình thành và lƣu truyền từ bao đời nay. Với vị trí địa lí thuận tiện nhƣ vậy, Quảng Ninh từ xƣa đến nay luôn là một khi vực phát triển kinh tế sôi động và là một trong những cái nôi văn hóa của dân tộc ta. Vài nét về kinh tế, lịch sử, văn hóa Quảng Ninh Quảng Ninh hội tụ tất cả những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú. Quảng Ninh là tỉnh có nền văn hóa phát triển mạnh và khá sớm. Ở thời kỳ tiền sử Quảng Ninh đƣợc mọi ngƣời biết đến sớm nhất tại điểm thuộc văn hóa Soi Nhụ. Thời kỳ của các văn hóa Bắc Sơn, văn hóa Hòa Bình từ khoảng trên dƣới 18.000 năm về trƣớc lúc mực nƣớc Biển Đông hạ thấp tới độ sâu 110 - 120 mét dƣới mực nƣớc biển ngày nay, mà băng hà còn phát triển.
Khi đó vịnh Bắc Bộ (gồm cả vịnh Hạ Long) là một đồng bằng tam giác châu rộng lớn. Vùng đất dài vài nghìn km thời ấy là một đồng bằng cổ. Một đồng dân cƣ tiền sử lớn từng sinh sống tại đây. Ngày ấy họ sống chủ yếu trong các hang động đá vôi, trên một địa bàn độc lập so với các cƣ dân Hòa Bình - Bắc Sơn cùng thời.
Vào thời điểm đó họ đã sáng tạo ra nền văn hóa Soi Nhụ. Đây cũng là cơ sở để hình thành các loại hình văn hóa tiến bộ mới ở Cái Bèo. Kế tiếp sau nền văn hóa Hạ Long nổi tiếng. Trong qua trình nghiên cứu các nhà khoa học đã gặp rất nhiều khó khăn nhƣng với tƣ liệu đã thu thập đƣợc sau cuộc khai quật di chỉ Đầu Rằm thì có thể 17 khẳng định Quảng Ninh từ thời tiền sử đến sơ sử đều là quá trình phát triển liên tục, không ngừng.
Ở thời kỳ phong kiến, Quảng Ninh đổi qua nhiều cái tên nhƣ: Lục Châu, phủ Hải Đông, Lộ Hải Đông, Lộ An Bang, lộ An Quảng, tỉnh Quảng Yên. Thời nhà Lý, Quảng Ninh đƣợc gọi với cái tên Hải Đông. Sau khi dẹp yên cuộc nổi dậy của ngƣời Đại Nguyên Lịch vào năm 1023, đôi thành châu Vinh An và xác định biên giới đông bắc của Đại Việt. Một thời gian sau cả vùng Ninh Hải - Lục Châu đã đƣợc đổi thành phủ Hải Đông.
Vào cuối thế kỷ 14 nhà Trần nâng Hải Đông lên thành lộ và đặt là An Bang (khoảng năm 1242). Một châu của Hải Lộ Dƣơng thuộc Đông Triều bây giờ. Đại Việt càng phát triển cũng đồng nghĩa với việc cƣ dân An Bang ngày càng tăng, họ mở rộng xóm làng ruộng đất, hình thành các đơn vị hành chính nhƣ: Đông Triều, các châu Tiên Yên, Vĩnh An, Vân Đồn, Vạn Ninh, huyện Hoa Phong, Hoành Bồ, Yên Hƣng. Vào cuối đời nhà Lý, tổ tiên nhà Trần đến vùng An Sinh (Đông Triều) để sinh sống và làm nghề đánh bắt cá.
Khu vực An Phụ, An Dƣỡng, An Sinh và An Bang sau này đƣợc đặt thành thái ấp của An Sinh Vƣơng Trần Liễu, anh của Trần Thái Tông. Tuy phát tích ở đất Nam Định nhƣng nhà Trần lúc nào cũng nhớ về quê hƣơng Đông Triều nên các vua Trần khi mất đều đƣợc chuyển về đây. Đến đời Lê Anh Tông (1556 - 1573) nhà vua đổi An Bang thành An Quảng. Vào thời nhà Tây Sơn, các trấn từ Sơn Nam Hạ và Bắc cũng đƣợc gọi là Bắc Thành.
An Quang có Phủ Kinh Môn với 7 huyện và sáp nhập thêm cả Đông Triều nên đã trở thành một trấn lớn. Thời Nguyễn Ánh, chinh chiến hơn 20 năm với nhà Tây Sơn, vào năm Tân Dậu (1801) ngày 3 tháng 5 nhà vua đã thu phục đƣợc Kinh đô Phú Xuân và năm 1802 chính thức lên ngôi Hoàng đế. Nhà vua vẫn giữ nguyên ngoại trấn An Quảng, với một phủ Hải Đông, ba huyện Hoành Bồ, Yên Quảng, Hoa Phong và ba châu Vạn Ninh, Tiên Yên và Vân Đồn. 18 Trấn An Quảng sau này đƣợc đổi tên thành trấn Quảng Yên (vào năm Minh Mạng thứ 3).
Trấn Quảng Yên tiếp tục đƣợc đổi thành tỉnh vào năm 1831 do Tổng đốc Hải An (Hải Dƣơng - An Quảng) kiêm quản. Năm 1836, phủ Hải Đông đƣợc đổi tên gọi là phủ Hải Ninh, châu Vân Đồn đƣợc gộp vào huyện Hoa Phong và đƣợc gọi là tổng Vân Hải. Sau đó, nhà Nguyễn tách huyện Hoành Bồ, huyện Hoa Phong và huyện Yên Hƣng ra khỏi phủ Hải Đông lập thành phủ Sơn Định, cho tri huyện Hoành Bồ kiêm quản.