Chương 1 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE VAI TRÒ CUA TO CHỨC. CÔNG DOAN TRONG DOANH NGHIỆP. Cơ sở lý luận về vai trò của tổ chức Công đoàn trong doanh nghiệp. ngoài quốc đoanh LLL.
các khái niệm có liên quan (1) Tả chức Công đoàn Công đoàn (nghiệp đoàn, liên đoàn lao động) là “mot hiệp hội của những người làm công ăn lương có mục đích duy trì hay cải thiện các điều kiện thuê mướn họ”, hoặc là nghiệp đoàn của những người công nhân. Công đoàn Việt Nam có tiền thân là Tổng Công hội đỏ Bắc kỳ, được. thành lập ngày 28 tháng 7 năm 1929. Trong cuốn "Đường cách mệnh" của Nguyễn Ái Quốc, Người viết "t6 chức Công hội trước là dé cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tập hai là để nghiền cứu với nhau; ba I để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khả hơn bây gid; bốn là để giữ gìn lợi quyền cho công nhân; năm là dé giúp đỡ quốc dân; giúp cho thé giới! Tai Điều 10 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: "Công đoàn Việt Nam là tỏ chức chính tri - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp, chính ding của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp vẻ những vấn đề liên quan đến quyển, nghĩa vụ của người lao động! tuyenstragén, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của Giai p công nhân. và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng “Công sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công cl „viên chị „ công nhân và những người lao động khác, cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, chức xã hội chăm lo và bảo vệ qu) „ lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao độ tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế xã hội, tham gia thanh. tra, kiếm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp: tuyên truyền, vận động người do động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (Luật Công đoàn), (2) Công đoàn cơ sở: Công đoàn cơ sở là tổ chức cơ sở của Công đoàn Việt Nam, được thành. lap ở một hoặc một số đơn vị sử dụng lao động hoạt động hợp pháp, khi có từ 05 đoàn viên hoặc 05 người lao động trở lên, có đơn tự nguyện gia nhập Công đoàn Việt Nam.
Công đoàn cơ sở được thành lập trong các đơn vị sử dung lao động gồm: - Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế (bao gồm cả các công ty con trong nhóm công ty; chỉ nhánh, van phòng đại điện của doanh nghiệp có trụ sở đặt tại địa phương khác), - Hợp tắc xã c sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động. - Đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập hạch toán độc lập. + Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp. ~ Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thé Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam.
- Cơ quan tổ chức khác có sử dụng lao động theo quy định của pháp uật về lao động, (3) Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Doanh nghiệp: “La một tổ chức kinh té có tên riêng, có tài sản, có. trụ sở giao dịch ổn định, được dang ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục dich thực hiện các hoạt động kinh doanh" (Luật Doanh nghiệp số 59/2020), Các loại hình doanh nghiệp: Hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau và được thể hiện qua hai hình thức cơ bản: = Doanh nghiệp Nhà nước: là jc doanh nghiệp trong đó nhà nước sở. hữu trên 50% vốn điều lệ, hoạt động trong các lĩnh vực quan trọng. giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh: Theo quy định, DN NQD bao gồm những loại hình doanh nghiệp sau: + Doanh nghiệp tư nhân; + Công ty hợp danh; + Công ty cổ phần; + Công ty trách nhiệm hữu hạn; + Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Vai trò của tổ chite công đoàn trong DN NOD Vai tò của Công đoàn trong các DN nói chung và DN NQD nói riêng là việc thực hiện các quy ước, chế tài theo luật để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp cua người lao động, đồng thời tạo dựng mỗi quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp, là cầu nối giữa người lao động và người sử dụng lao động, vừa phải bảo vệ quyển, lợi ích của người lao động vừa phải góp phin thúc day sự phát triển của doanh nghiệp. ‘Theo Luật ông đoàn, Công đoàn tham gia với đơn vị sử dụng lao động xây dựng và giám thực hiện thang, bảng lương, định mức lao động, quy chế tra lương, quy chế thưởng, nội quy lao động; tham gia với cơ: quan, tô chức, cá nhân có thắm quyền giải quyết tranh chấp lao động. Đồng thời, Công đoàn cũng đại diện người sử dung lao động tham gia cùng với co quan nhà nước hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động hài hòa, én định và tién bộ, giám sat việc thi hảnh các quy định của pháp luật lao động, bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sir dụng lao động.
"Như vậy, có thé thấy tổ chức Công đoàn trong các DN NQD có vai trò bế sức quan trọng trong việc tham gia cùng người sử lao động xây dựng nội quy, quy chế, quy định của doanh nghiệp. Nội quy lao động trong các doanh. nghiệp sử dụng lao động là hệ thống văn bản quy định về các hoạt động nhằm. duy trì và tăng cường kỷ luật lao động của DN, là một trong những công cu, biện pháp quản lý sản xui quản lý lao động của DN.
C1 ức năng của tổ chức Công đoàn trong DN NOD Qué trình cải ách nền kinh tế của nước ta đặc trưng cơ bản bởi sự chuyển đổi từ nền kinh tế hanh chính được bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ nền kinh tế một thành phần (kinh tế quốc doanh) sang nền kinh tế nhiều thành phần. Cái cách về cơ chế kinh tế chắc chắn đỏi hỏi những thay đổi về cơ cấu xã hội, các mối quan hệ xã hội và tâm lý xã hội. "Để điều chỉnh các mối quan hệ này, đảm bảo quyền lợi bình đẳng giữa người lao động và người sử dụng lao động, tổ chức công đoàn các cấp ra đời dé thực hiện chức năng này. Điều I Luật Công đoàn nói rõ: "Công đoàn có quyền cùng với cơ quan Nhằ nước, tổ chiức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác", Ngoài ra, trong Điều 10 Hiến pháp của nước ta cũng quy định rõ: Công đoàn.
cổ các chức năng như tham gia quản lý Nhà nước; báo vệ lợi ích công nhân, viên chức, lao động; chức năng giáo dục. tuy nhiên chức năng cơ bản và trung tâm nhất của tổ chức Công đoàn vẫn là chức năng bảo vệ người lao động. Mặc dù, theo nguyên tắc quan hệ lao động là quan hệ mang tính bình đẳng. Tuy nhiên, trong thực tế, người lao động thường rơi vào thé yếu hơn so với người sử dụng lao động.
Điều này cũng d người lao động do sức ép của việc làm, thu nhập mà họ thưởng chấp nhận thua thiệt. Hơn nữa, do những hạn chế trong giám sát, kiểm tra mà việc tuân thủ các quy định về quyển của người lao động trong các DN, đặc biệt là DN NQD ở nhiều noi chưa thực sự đầy đủ và đúng quy định. ‘Theo Luật Công đoàn, tắt cả các tổ chức doanh nghiệp đều phải thành. lập tổ chức công đoàn để thực hiện nhiều chức năng khác nhau, đặc biệt là chức năng bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động.
nhất là DN NQD xung đột lợi ích giữa người lao động và doanh nghiệp thưởng xuyên xảy ra, mặt khác trách nhiệm của người lao động cùng phải tham gia, đóng góp sức lực và trí tuệ của minh để phát triển doanh. Đi wu t các quan hệ trên, tổ chức Công đoàn có vai trồ hết xức quan trong và được thé hiện qua những chức năng sau đây: Thứ nhất: Chức năng đại diện và bảo vệ quyên, lợi ich hợp pháp chính dang của công nhân, viên chức, lao động trong công đoàn cơ sé ngoài quốc doanh Đây có thể coi là chức năng trung tâm của tổ chức Công đoàn Việt Nam. Trong điểu kiện hiện nay, số lượng các doanh nghiệp tư nhân, liên doanh, các doanh nghiệp có vén đầu tư nước ngoài ngày một tăng lên. quan hệ lao động ở các loại hình doanh nghiệp này là mỗi quan hệ “chti - tho” nên đã xuất hiện tình trạng vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động có xu hướng gia tăng.
Công đoàn cang đặc biệt phải coi trọng chức năng bảo vệ lợi ich người lao động. “Chức năng này của Công đoàn thể hiện qua việc Công đoàn là đại diện cho người lao động giải quyết các xung đột liên quan đến lợi ích, quyền lợi. của họ trong các doanh nghiệp, như: tiền lương, thưởng, Bảo hiểm xã hội, điều kiện làm việc, an toàn lao động và các lợi ích hợp pháp khác. Thông qua tổ chức Công đoàn không những quyền lợi của người lao động được bảo vệ mà lợi íeh của doanh nghiệp cũng được đảm bảo.
Khi lợi ích của người lao động được bab vệ họ sẽ tích cực đóng góp nhiều hơn cho doanh nghiệp và từ đó lợi ích của doanh nghiệp không chỉ được đảm bảo mà còn được phát triển.