Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ triết học của nghiên cứu sinh Lê Hoàng Nam với đề tài "Vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay" được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hồ Trọng Hoài, thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62 22 80 05).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu:
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, doanh nghiệp giữ vai trò là chủ thể sản xuất kinh doanh, tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Để phát triển bền vững, doanh nghiệp cần kiến tạo văn hóa doanh nghiệp làm nền tảng và động lực. Tuy nhiên, thực tiễn tái cấu trúc doanh nghiệp cho thấy tính văn hóa trong kinh doanh chưa cao, bắt nguồn từ nguyên nhân chủ yếu là ý thức tuân thủ pháp luật còn thấp. Tình trạng kinh doanh kiểu "chụp giật", "lách luật", "hư vô pháp luật", cùng các sai phạm về môi trường, trốn thuế, làm hàng giả, cạnh tranh không lành mạnh và những vụ án kinh tế lớn (như vụ Vinashin, Vinalines, ngân hàng ACB) đã phản ánh sự hạn chế trong ý thức pháp luật của các chủ thể doanh nghiệp. Mặc dù ý thức pháp luật là tiền đề xác lập các chuẩn mực và giá trị văn hóa doanh nghiệp, việc nghiên cứu mối quan hệ tương tác này dưới góc độ triết học tại Việt Nam trước đây còn rất hạn chế, chưa mang tính hệ thống.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp nhằm đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp phát huy vai trò này ở Việt Nam hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (được đánh số theo văn bản):
- Làm rõ khái niệm văn hóa doanh nghiệp, xây dựng văn hóa doanh nghiệp, ý thức pháp luật và vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở nước ta hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát thực trạng tại các loại hình doanh nghiệp gồm doanh nghiệp nhà nước (DNNN), doanh nghiệp tư nhân (DNTN) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DN FDI). Địa bàn khảo sát thực tế tập trung tại các khu công nghiệp (Khu công nghiệp Bắc Thăng Long, Khu công nghiệp Phố Nối, Khu công nghiệp Bắc Ninh) và một số doanh nghiệp tại Hà Nội vào tháng 7 năm 2012, kết hợp kế thừa số liệu các nghiên cứu trước đó.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan nghiên cứu tại Chương 1 được tác giả hệ thống hóa thành ba hướng tiếp cận chính:
-
Các nghiên cứu về ý thức pháp luật:
- Nội hàm và bản chất ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa: Tạ Như Khuê (1974) phân tích nhận thức pháp lý và tình cảm pháp lý; Tân Chi (1975) nghiên cứu ý thức pháp luật gắn với pháp chế xã hội chủ nghĩa; Đào Trí Úc (1993, 2006) làm rõ mối quan hệ giữa thị trường và pháp luật cũng như việc xây dựng lối sống theo pháp luật.
- Đặc điểm và sự hình thành ý thức pháp luật ở Việt Nam: Đào Duy Tấn (2000, 2003) phân tích chức năng nhận thức, mô hình hóa, điều chỉnh hành vi và ảnh hưởng của tâm lý phong kiến, cơ chế quan liêu; Nguyễn Thúy Vân (2000) nghiên cứu logic khách quan và những mâu thuẫn trong quá trình phát triển ý thức pháp luật; Nguyễn Minh Đoan (2006, 2011, 2013) phân tích chi tiết cơ cấu, chức năng, vai trò của ý thức pháp luật đối với đời sống xã hội và lối sống theo pháp luật.
- Ý thức pháp luật của các nhóm chủ thể cụ thể: Lê Đình Khiên (1996) nghiên cứu đội ngũ cán bộ quản lý hành chính; Hồ Việt Hiệp (2001, 2004) phân tích nhân tố chủ quan và ý thức pháp luật của người dân đồng bằng sông Cửu Long; Ngọ Văn Nhân (2008) khảo sát tác động của dư luận xã hội; Trần Công Lý (2009) nghiên cứu giáo dục pháp luật cho công chức; Lê Xuân Huy (2010) đánh giá ý thức pháp luật với việc thực hiện dân chủ ở nông thôn; Hoàng Thị Kim Quế (2003) và Trần Thị Nguyệt (2005) nghiên cứu vai trò ý thức pháp luật trong xây dựng và thực hiện pháp luật.
-
Các nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp:
- Học giả nước ngoài: Georges de Saite Marie, Edgar H. Schein (cấu trúc văn hóa 3 cấp độ), Fons Trompenaars, Charles Handy, Terrence E. Deal, Charles Hampden-Turner (các mô hình văn hóa doanh nghiệp), Stephen P. Robbins, Andrew Brown.
- Học giả trong nước: Nguyễn Thị Doan và Đỗ Minh Cương (1999), Đỗ Minh Cương (2001, 2009, 2010) phân tích triết lý kinh doanh và nhân cách doanh nhân; Trần Quốc Dân (2003, 2005, 2008) bàn về tinh thần doanh nghiệp và sức hấp dẫn của doanh nghiệp; Đỗ Thị Phi Hoài (2009), Trần Thị Vân Hoa (2009), Trần Nhoãn (2009) hệ thống hóa giáo trình văn hóa doanh nghiệp; Dương Thị Liễu (2009), Bùi Xuân Phong (2009), Nguyễn Thị Ngọc Anh (2010) phân tích mối quan hệ giữa văn hóa kinh doanh, đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp; Phùng Xuân Nhạ (2011) chủ biên công trình điều tra thực trạng văn hóa kinh doanh và nhân cách doanh nhân; Hoàng Văn Hải (2012) phân tích tinh thần doanh nghiệp Việt Nam.
-
Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa ý thức pháp luật với đời sống văn hóa và văn hóa doanh nghiệp:
- Vũ Khiêu và Thành Duy (2000) phân tích sự kết hợp giữa "đức trị" và "pháp trị"; Lê Đức Tiết (2005) tiếp cận ý thức pháp luật như một bộ phận cấu thành văn hóa pháp lý; Trịnh Đức Thảo (2008) xem xét văn hóa công sở dưới góc độ pháp lý; Nguyễn Thị Hồi (2008) và Hoàng Thị Hạnh (2011) làm rõ mối quan hệ giữa ý thức pháp luật, văn hóa pháp luật và nhà nước pháp quyền; Đỗ Hữu Hải (2010) bước đầu đặt vấn đề "Luật văn hóa doanh nghiệp".
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
Các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu tách rời ý thức pháp luật hoặc văn hóa doanh nghiệp dưới góc độ luật học, quản trị kinh doanh hoặc xã hội học. Chưa có công trình nào trực tiếp luận giải một cách hệ thống mối quan hệ biện chứng và vai trò của ý thức pháp luật đối với việc kiến tạo các thành tố của văn hóa doanh nghiệp từ góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết:
- Cơ sở lý luận nền tảng: Các nguyên lý, quy luật của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mácxít về hình thái ý thức xã hội, sự quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam và các quy định pháp luật của Nhà nước Việt Nam về xây dựng nền văn hóa và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Khung khái niệm: Khái niệm văn hóa (kế thừa định nghĩa của GS.TSKH Trần Ngọc Thêm và Czinkota), khái niệm văn hóa doanh nghiệp (kế thừa định nghĩa của PGS.TS Trần Thị Vân Hoa và phát triển định nghĩa riêng của tác giả), khái niệm và cấu trúc ý thức pháp luật (hệ tư tưởng pháp luật, tâm lý pháp luật; tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phương pháp trừu tượng hóa khoa học, logic - lịch sử, phân tích và tổng hợp triết học.
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp góc nhìn của triết học, văn hóa học, luật học và kinh tế học để phân tích hành vi của doanh nhân và doanh nghiệp.
- Phương pháp điều tra xã hội học và xử lý dữ liệu:
- Khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến (thực hiện tháng 7/2012) tại các khu công nghiệp thuộc Bắc Thăng Long, Phố Nối, Bắc Ninh và một số doanh nghiệp ở Hà Nội.
- Cỡ mẫu điều tra: 151 chủ doanh nghiệp (73 DNNN, 48 DNTN, 30 DN FDI) và 301 người lao động (14 thuộc nông lâm ngư nghiệp, 225 thuộc công nghiệp - xây dựng, 62 thuộc dịch vụ).
- Phỏng vấn sâu các đối tượng liên quan (chủ doanh nghiệp, người lao động, khách hàng).
- Kỹ thuật phân tích: Nhập và xử lý thống kê mô tả bằng phần mềm SPSS (tháng 8/2012).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa và đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu lý luận, thực tiễn trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu về ý thức pháp luật và văn hóa doanh nghiệp đã tích lũy được khối lượng tri thức phong phú về nội hàm, cấu trúc và chức năng. Tuy nhiên, việc gắn kết ý thức pháp luật với việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở các nhận định gián tiếp, chưa được làm sáng tỏ ở cấp độ bản chất triết học. Đây là căn cứ khoa học xác lập tính cần thiết của đề tài luận án.
Chương 2: Vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp - một số vấn đề lý luận
Chương 2 tập trung giải quyết các nội dung lý luận cốt lõi:
- Định nghĩa văn hóa doanh nghiệp: Tác giả đưa ra khái niệm: "Văn hóa doanh nghiệp là những giá trị vật chất và tinh thần do doanh nghiệp sáng tạo ra, tiếp thu, chọn lọc, nuôi dưỡng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, chi phối nhận thức và cách thức hành động của các thành viên trong doanh nghiệp, vì mục tiêu phát triển bền vững của doanh nghiệp và xã hội."
- Cấu trúc ý thức pháp luật trong hoạt động doanh nghiệp: Bao gồm hệ tư tưởng pháp luật (nhận thức khoa học về bản chất, vai trò pháp luật) và tâm lý pháp luật (tình cảm, thói quen, tâm trạng pháp lý của người sử dụng lao động và người lao động).
- Bốn biểu hiện chủ yếu về vai trò của ý thức pháp luật trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp:
- Xây dựng văn hóa pháp luật cho các chủ thể doanh nghiệp (nâng cao tri thức và hình thành thói quen tuân thủ pháp luật).
- Xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh và điều chỉnh các mối quan hệ cơ bản của doanh nghiệp (quan hệ giữa người sử dụng lao động với người lao động, với đối tác, khách hàng và Nhà nước).
- Thúc đẩy các chủ thể doanh nghiệp sáng tạo sản phẩm mang ý nghĩa văn hóa (tuân thủ quy chuẩn chất lượng, sở hữu trí tuệ, an toàn môi trường).
- Tham gia xác lập triết lý kinh doanh và hệ thống các giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp.
Chương 3: Vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay - thực trạng và những vấn đề đặt ra
Chương 3 trình bày các kết quả điều tra xã hội học định lượng (xử lý bằng SPSS) và phân tích các biểu hiện thực tế:
Tổng hợp mức độ hiểu biết pháp luật của 151 chủ doanh nghiệp (xử lý SPSS tháng 8/2012):
| Tên văn bản pháp luật |
Tỷ lệ biết đầy đủ (%) |
Tỷ lệ biết ít (%) |
Tỷ lệ không biết (%) |
Tỷ lệ khó trả lời (%) |
| Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp |
29,8 |
51,0 |
12,6 |
6,6 |
| Luật Thuế giá trị gia tăng |
28,5 |
51,7 |
14,6 |
5,3 |
| Luật Thuế thu nhập cá nhân |
27,8 |
54,3 |
12,6 |
5,3 |
| Luật Doanh nghiệp |
25,8 |
53,6 |
11,9 |
8,6 |
| Luật Lao động |
24,5 |
53,6 |
14,6 |
7,3 |
| Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt |
19,9 |
49,0 |
23,2 |
7,9 |
| Luật Kế toán |
16,6 |
47,7 |
27,2 |
8,6 |
| Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa |
16,6 |
41,7 |
35,1 |
6,6 |
| Luật Bảo hiểm y tế |
16,6 |
63,6 |
12,6 |
7,3 |
| Luật Đầu tư |
15,9 |
47,0 |
29,8 |
7,3 |
| Luật Bảo vệ môi trường |
15,9 |
50,3 |
27,2 |
6,6 |
| Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu |
14,6 |
49,0 |
29,8 |
6,6 |
| Luật Công đoàn |
13,9 |
51,7 |
26,5 |
7,9 |
| Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí |
13,9 |
51,0 |
26,5 |
8,6 |
| Luật Thương mại |
13,2 |
45,7 |
33,8 |
7,3 |
| Luật Hành chính |
13,2 |
48,3 |
30,5 |
7,9 |
| Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng |
11,9 |
44,4 |
33,8 |
9,9 |
| Luật Sở hữu trí tuệ |
11,3 |
47,7 |
32,5 |
8,6 |
| Luật Thuế bảo vệ môi trường |
10,6 |
49,0 |
32,5 |
7,9 |
| Luật Cạnh tranh |
7,3 |
31,1 |
54,3 |
7,3 |
| Luật Phá sản doanh nghiệp |
6,0 |
44,4 |
42,4 |
7,3 |
Khảo sát việc thực hiện chế độ và kỷ luật lao động từ 301 người lao động:
- Mức độ chấp hành kỷ luật của công nhân: Giờ giấc nghiêm túc đạt 91,4%; thực hiện quy trình lao động nghiêm túc đạt 89,4%; thực hiện an toàn lao động nghiêm túc đạt 89,2%.
- Đánh giá của người lao động về sự quan tâm của doanh nghiệp: Bảo hiểm y tế tốt đạt 55,8%; Bảo hiểm xã hội tốt đạt 56,8%; Vệ sinh và an toàn lao động tốt đạt 54,8%; Tiền lương tốt đạt 21,3%; Tiền thưởng tốt đạt 20,6%; Phúc lợi xã hội tốt đạt 34,6%; Nhà ở tốt đạt 27,9%.
- Hiện tượng đình công: Có 8,6% người lao động từng tham gia hoặc có ý định đình công. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc doanh nghiệp tăng lương, thưởng không đúng thỏa thuận (chiếm 76,0%) hoặc nguyên tắc hoạt động quá khắt khe (chiếm 34,6%).
Những vấn đề đặt ra từ thực trạng:
- Một bộ phận chủ thể doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của ý thức pháp luật trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp; còn tồn tại thói quen buôn bán tự phát, tâm lý "lách luật" và "phép vua thua lệ làng".
- Ý thức pháp luật chưa phát huy đầy đủ vai trò tích cực, khiến văn hóa doanh nghiệp tại phần lớn các đơn vị mới dừng lại ở cấp độ bề nổi (biểu trưng, khẩu hiệu, yếu tố hữu hình), thiếu các giá trị văn hóa chiều sâu và cam kết trách nhiệm xã hội.
- Thể chế kinh tế thị trường còn thiếu đồng bộ; vai trò quản lý, hỗ trợ và chế tài của Nhà nước trong việc thúc đẩy văn hóa doanh nghiệp còn mờ nhạt.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp nhằm phát huy vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Chương 4 đề xuất hệ thống quan điểm chỉ đạo và các nhóm giải pháp:
- Quan điểm:
- Phát huy vai trò của ý thức pháp luật trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp phải gắn liền với quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và lành mạnh hóa đời sống xã hội.
- Việc phát huy vai trò ý thức pháp luật là trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là trách nhiệm tự thân của doanh nghiệp và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục.
- Ba nhóm giải pháp cơ bản:
- Nhóm giải pháp thứ nhất: Nâng cao nhận thức của các chủ thể doanh nghiệp và toàn xã hội về tầm quan trọng của ý thức pháp luật trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp (đẩy mạnh truyền thông, giáo dục pháp luật, thành lập tổ tư vấn pháp luật nội bộ trong doanh nghiệp).
- Nhóm giải pháp thứ hai: Đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ cho doanh nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa kinh doanh lành mạnh.
- Nhóm giải pháp thứ ba: Xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật; đồng thời thiết lập cơ chế khuyến khích, tôn vinh các doanh nghiệp tuân thủ pháp luật gắn với tiêu chuẩn công nhận "Doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa" theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Đề án 1780/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học lý luận:
- Luận giải có hệ thống dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về khái niệm văn hóa doanh nghiệp, cấu trúc ý thức pháp luật và mối quan hệ biện chứng giữa ý thức pháp luật với việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp.
- Xác lập khung lý luận chứng minh ý thức pháp luật là tiền đề, điều kiện tối thiểu và động lực định hình các giá trị văn hóa vật chất lẫn tinh thần của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Cung cấp dữ liệu điều tra xã hội học định lượng (xử lý qua phần mềm SPSS) về mức độ hiểu biết pháp luật của chủ doanh nghiệp và thực trạng chấp hành pháp luật của người lao động tại các khu công nghiệp trọng điểm miền Bắc.
- Đề xuất hệ thống giải pháp liên hoàn kết hợp giữa nâng cao nhận thức tự giác của doanh nghiệp, hoàn thiện thể chế pháp lý của Nhà nước và cơ chế kiểm soát xã hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Địa bàn khảo sát thực địa chủ yếu tập trung tại khu vực phía Bắc (Khu công nghiệp Bắc Thăng Long, Khu công nghiệp Phố Nối, Khu công nghiệp Bắc Ninh và Hà Nội) với quy mô mẫu 151 chủ doanh nghiệp và 301 người lao động, chưa bao quát toàn bộ các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và miền Trung.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh mức độ tác động của ý thức pháp luật tới văn hóa doanh nghiệp theo từng ngành nghề kinh doanh đặc thù hoặc theo các vùng kinh tế khác nhau trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và học viên: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo hữu ích cho các ngành Triết học, Triết học mácxít, Xã hội học pháp luật, Quản trị kinh doanh và Văn hóa học khi nghiên cứu về ý thức xã hội, văn hóa kinh doanh và đạo đức kinh doanh.
- Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp: Cung cấp định hướng xây dựng quy chế nội bộ, thiết lập tổ tư vấn pháp lý và kiến tạo môi trường lao động hài hòa, giảm thiểu nguy cơ tranh chấp lao động và đình công.
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực chứng để xây dựng các chương trình phổ biến pháp luật và hoàn thiện tiêu chuẩn xét duyệt "Doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa".
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa văn hóa doanh nghiệp như thế nào?
Luận án xác định văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do doanh nghiệp sáng tạo ra, tiếp thu, chọn lọc và nuôi dưỡng trong suốt quá trình tồn tại, phát triển; chi phối nhận thức và hành động của mọi thành viên nhằm hướng tới sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và xã hội.
2. Mức độ hiểu biết pháp luật của chủ doanh nghiệp qua khảo sát SPSS thể hiện ra sao?
Kết quả khảo sát 151 chủ doanh nghiệp cho thấy sự chênh lệch lớn giữa các lĩnh vực pháp luật: tỷ lệ hiểu biết đầy đủ tập trung cao nhất ở các luật thuế và tổ chức như Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (29,8%), Luật Thuế giá trị gia tăng (28,5%), Luật Doanh nghiệp (25,8%), Luật Lao động (24,5%); trong khi đó các văn bản mang tính điều tiết cạnh tranh và bảo vệ thị trường có tỷ lệ hiểu biết đầy đủ rất thấp như Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (11,9%), Luật Sở hữu trí tuệ (11,3%), Luật Cạnh tranh (7,3%) và Luật Phá sản doanh nghiệp (6,0%).
3. Tác giả chỉ ra những biểu hiện tiêu cực nào về ý thức pháp luật kìm hãm văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam?
Các biểu hiện tiêu cực được nêu rõ bao gồm tâm lý "lách luật", tư tưởng "phép vua thua lệ làng", kinh doanh "chụp giật", trốn thuế, vi phạm luật lao động, hủy hoại môi trường, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, sản xuất hàng giả và cạnh tranh không lành mạnh.
4. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp cơ bản nào ở Chương 4?
Luận án đề xuất ba nhóm giải pháp: (1) Nâng cao nhận thức của chủ thể doanh nghiệp và xã hội về vai trò ý thức pháp luật; (2) Đổi mới, hoàn thiện hệ thống thể chế pháp luật tạo hành lang pháp lý lành mạnh; (3) Xử lý nghiêm minh vi phạm kết hợp áp dụng các tiêu chí khen thưởng, tôn vinh doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Hoàng Nam đã giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của ý thức pháp luật đối với quá trình xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam. Trên cơ sở lý luận triết học mácxít và số liệu điều tra xã hội học thực tế, công trình khẳng định ý thức pháp luật là nền tảng điều chỉnh hành vi kinh doanh, bảo vệ quyền lợi người lao động và định hình hệ giá trị văn hóa bền vững của doanh nghiệp. Các kiến nghị và giải pháp do luận án đề xuất là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị phục vụ công tác nghiên cứu học thuật lẫn quản trị thực tiễn.