mở đầu. Để công nghiệp hoá nước Anh cần 120 năm, các nước Tây Âu và Mỹ là trên dưới 80 năm, Nhật Bản hơn 60 năm, còn “ Bốn con Rồng Châu Á‟‟ khoảng 20 năm. Tại bất cứ thời điểm nào công nghiệp hoá cũng luôn luôn gắn liền với hiện đại hoá. Công nghiệp hoá không chỉ là sự tăng thêm một cách giản đơn tốc độ và tỉ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế mà còn là cả z 8 một quá trình chuyển dịch cơ cấu, gắn liền với đổi mới công nghệ, tạo nền tảng cho sự bền vững và có hiệu quả cao của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Công nghiệp hoá luôn luôn đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp với những bước tiến tuần tự về công nghệ, vân dụng phát triển chiều rộng, tạo nhiều công ăn việc làm cho đội ngũ lao động đông đảo hiện nay, với việc tranh thủ các cơ hội đi tắt đón đầu, phát triển chiều sâu tạo nên những mũi nhọn theo trình độ tiến triển của khoa học công nghệ mới. Công nghiệp hoá luôn được hiểu là quá trình chuyển biến căn bản trình độ kỹ thuật của nền kinh tế, từ trình độ phổ thông chuyển sang trình độ cơ khí, biến nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp. Với nội dung này có thể nhận định rằng công nghiệp hoá là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp, cũng là quá trình tạo nền tảng vật chất, kỹ thuật của phương thức sản xuất mới. Công nghiệp hoá không đơn thuần chỉ là quá trình cải biến thể chế và cấu trúc của nền kinh tế.
Nếu như nền kinh tế nông nghiệp nông thôn cổ truyền vận động và phát triển trong khuôn khổ cơ chế tự túc tự cấp, khép kín với sự thống trị của các quan hệ trao đổi hiện vật trực tiếp thì trong nền kinh tế dựa trên nền tảng đại công nghiệp, cơ chế vận hành phải là cơ chế mang tính xã hội hoá cao và phổ biến rộng rãi các quan hệ trao đổi sản phẩm của lao động. Hình thái hiện vật của nền kinh tế được thay thế bằng hình thức xã hội hoá. Theo đó công nghiệp hoá cũng là quá trình cải biến hệ thống thể chế và cơ chế kinh tế, từ nền kinh tế hiện vật khép kín tự túc sang nền kinh tế trao đổi lao động xã hội hoá dựa trên sự phân công lao động xã hội phát triển mạnh mẽ. Như vậy công nghiệp hoá là một quá trình cải biến toàn diện nền kinh tế.
Một mặt đây là quá trình thay thế các phương thức sản xuất dựa vào kỹ thuật thủ công. Mặt khác đây cũng chính là quá trình cải biến các phương z 9 thức sản xuất tiền Tư bản, thay thế chúng bằng phương thức sản xuất dựa trên nguyên tắc thể chế mới, đó là nguyên tắc thị trường. Trên thực tế chúng ta thấy rằng do định hướng và hoàn cảnh thực hiện công nghiệp hoá khác nhau nên phương thức và các giải pháp tiến hành công nghiệp hoá cũng khác nhau. Trên thế giới đã từng xuất hiện và tồn tại hai mô hình công nghiệp hóa khác nhau, về chất đó là sự khác biệt của mô hình công nghiệp hoá Tư bản và mô hình công nghiệp hoá Xã hội chủ nghĩa, về kinh tế hai mô hình này khác nhau cơ bản về mặt cơ chế, đó là cơ chế thị trường và cơ chế kế hoạch hóa tập trung.
Trong đó cụ thể nhất, điểm cốt lõi để phân biệt hai mô hình công nghiệp hoá chính là sự khác biệt ở phương thức phân bổ các nguồn lực để tiến hành công nghiệp hoá. Trong lịch sử chính những sự khác biệt của hai mô hình trên là yếu tố quyết định thành công của quá trình công nghiệp hoá, sự thành công hay thất bại được thể hiện ở hai điểm sau : Thứ nhất : Sự sụp đổ của các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chứng tỏ công nghiệp hoá trong khuôn khổ và thông qua cơ chế kế hoạch hóa tập trung không phải là phương thức hữu hiệu để giải quyết các vấn đề phát triển. Thứ hai : Trong khuôn khổ cơ chế thị trường không phải mô hình công nghiệp hoá nào cũng có hiệu quả và triển vọng như nhau. Các kết quả thực tế chứng tỏ mô hình công nghiệp hoá hướng ngoại dựa vào xuất khẩu mang lại kết quả tích cực rõ rệt và có hiệu quả triển vọng hơn mô hình hướng nội, thay thế nhập khẩu.
Nguyên nhân chủ yếu là trong mô hình hướng ngoại dựa vào xuất khẩu các nguyên tắc cạnh tranh thị trường ít bị méo mó hơn hơn nhiều so với mô hình hướng nội thay thế nhâp khẩu. z 10 Công nghiệp hoá là cả một quá trình chuyển biến căn bản về kinh tế, xã hội của đất nước. Không thể tiến hành công nghiệp hoá với kỹ thuật cổ điển và cơ chế quản lý cũ, mà công nghiệp hoá luôn luôn phải gắn liền với hiện đại hoá. “ Công nghiệp hoá không chỉ làm tăng thêm một cách giản đơn tốc độ và tỉ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế, mà là cả một quá trình chuyển dịch cơ cấu, gắn liền với đổi mới công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng bền vững và có hiệu quả cao của toàn bộ nền kinh tế quốc dân‟‟.
Công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp với các bước tuần tự về công nghệ, vận động phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho đội ngũ đông đảo người lao động. Khoa học công nghệ hiện đại là nhân tố then chốt của hiện đại hoá. Nhưng hiện đại hoá có nội dung rộng lớn và phong phú hơn nhiều, bao gồm các mặt : Kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá. Hiện đại hoá thường được định nghĩa là quá trình nhờ đó các nước đang phát triển tìm cách đạt được sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, tiến hành cải cách chính trị và củng cố cơ cấu xã hội của họ, nhằm tiến tới một hệ thống kinh tế, xã hội và chính trị giống các nước phát triển.
Nói đến hiện đại hoá là nói đến một quá trình lâu dài đầy gian khổ để cải biến một xã hội cổ truyền thành một xã hội hiện đại, một xã hội có trình độ văn minh cao hơn, thể hiện đầy đủ hơn những giá trị của chúng mà nhân loại muốn vươn tới. Các nước có trình độ và điều kiện kinh tế và xã hội khác nhau nên thường có những cách tiến hành hiện đại hoá khác nhau, bằng những con đường không hoàn toàn giống nhau. Một xã hội được thừa nhận chung là hiện đại trước hết phải là một xã hội có nền kinh tế phát triển, thể hiện tập trung ở nhịp độ tăng trưởng sản phẩm chung và tính theo đầu người. Sự tăng trưởng kinh tế này có z 11 quan hệ hữu cơ với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Cái cốt lõi của hiện đại hoá kinh tế chính là tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền đổi mới căn bản về công nghệ, phát triển mạnh mẽ các ngành trong nền kinh tế, nhất là các ngành có hàm lượng khoa học công nghệ cao. Trong quan niệm về hiện đại hoá kinh tế luôn luôn phải gắn liền với hiện đại hoá chính trị. Hai quá trình hiện đại hoá này không phải lúc nào cũng trùng hợp nhau về bước đi và tốc độ, nhưng chúng luôn luôn có quan hệ bền chặt và hoà quyện lẫn nhau. Chúng có quan hệ biện chứng với nhau không chỉ hoàn thiện cái này mà xem nhẹ cái kia, chúng luôn luôn có sự tương trợ lẫn nhau giữa kinh tế và chính trị, giữa dân chủ và kinh tế thị trường.
Hai mặt này đều có cơ chế tự phát triển, tự điều tiết mạnh, chúng luôn luôn đối nghịch với các biện pháp cưỡng bức hành chính, áp đặt tuỳ tiện, độc đoán chuyên quyền. Nhà nước pháp quyền chính là cái đảm bảo cho quyền dân chủ, tự do của công dân được thực hiện trong trật tự luật pháp. Không thiết lập được một nhà nước pháp quyền thì không thể nghiêm túc mà hình dung đến phát triển kinh tế, khác với xã hội cổ truyền mang nặng tính chất giai cấp và trì trệ, xã hội hiện đại là một xã hội đa dạng, có tính cơ động xã hội cao, các thành viên và các nhóm xã hội có thay đổi về nghề nghiệp nâng cao thu nhập, nâng cao đời sống kinh tế và địa vị xã hội. Công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở bất kỳ nước nào cũng đi đôi với đô thị hoá, với sự tăng lên mạnh mẽ về tỉ trọng và vai trò của các tầng lớp trung lưu hóa gắn liền với tri thức hoá xã hội, sẽ tạo ra cho xã hội một cơ sở bền vững cho sự ổn định và phát triển đất nước.
z 12 Xây dựng một xã hội văn minh hiện đại không phải chỉ là xây dựng khoa học công nghệ hay sức mạnh kinh tế, mà còn là xây dựng phát triển văn hoá. Trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước không thể xem nhẹ khía cạnh văn hoá của phát triển, vì chính văn hoá làm cho phát triển có ý nghĩa hơn. Bất cứ sự phát triển nào về kinh tế, kỹ thuật, hay thể chế mà dẫn tới huỷ hoại những giá trị văn hoá làm xấu đi những quan hệ con người đều là vô nghĩa. Văn hoá được thể hiện trình độ được vun trồng của con người, của xã hội, tức là làm cho con người và xã hội ngày một tiến bộ hơn, khiến cho con người càng ngày càng đổi mới, ngày càng xa rời trạng thái nguyên sơ.
Văn hoá không ngừng hoà thiện chất lượng con người, nâng cao khả năng hoạt động sáng tạo, làm cho con người ứng xử tốt đẹp với con người. Bởi vì chỉ có thông qua sự phát triển con người và năng lực con người, mà có thể biến đổi toàn bộ định hướng, những giá trị vật chất của nền văn minh và sử dụng toàn bộ tiềm năng to lớn của nó cho những mục đích tốt đẹp. Chính trên quan điểm này mà UNESCO khẳng định mạnh mẽ rằng : Văn hoá là chìa khoá của phát triển, là mục tiêu và hệ điều tiết của phát triển mà không sợ cường điệu vai trò của văn hoá. Khi nghiên cứu quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ những khía cạnh kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá.
Chúng luôn được khẳng định sự liên kết hữu cơ của các khía cạnh này, sự phát triển cân đối hài hoà giữa kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá là sự phát triển năng động, có hiệu quả và vững chắc nhất.