phần mở đầu, đề tài gồm 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luan van 14 Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN 1. Những vấn đề chung về kinh tế biển, phát triển kinh tế biển 1. Kinh tế biển Kinh tế biển là gì? Theo các nhà kinh tế, KTB là tổng hợp các hoạt động kinh tế thông qua việc tận dụng tối đa các nguồn lực của biển - đại dương để mang lại lợi ích cho các chủ thể kinh tế với mục tiêu phát triển KT- XH của một quốc gia Đa số các nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn cho rằng, ở mỗi nước KTB là một ngành tổng hợp của nền kinh tế quốc dân, bao gồm các hoạt động kinh tế thông qua việc tận dụng các lợi thế về điều kiện địa lý, tài nguyên và con người liên quan đến biển theo sự quản lý thống nhất, nhằm mục đích đem lại lợi ích cho người lao động, đóng góp vào thu nhập quốc dân và phát triển chung của đất nước.
Với quan niệm trên, KTB gồm những nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, KTB là tổng hợp các lĩnh vực kinh tế liên quan đến biển Các hoạt động phát triển KTB gắn bó chặt chẽ với các hoạt động kinh tế ở trên đất liền. Kinh tế đất liền tăng trưởng nhanh, mạnh sẽ tạo điều kiện hỗ trợ đắc lực cho KTB phát triển và cho phép các hoạt động KTB ngày càng trở nên đa dạng. Ngược lại, chính sự phát triển KTB tạo động lực lôi kéo và bảo đảm cho sự phát triển bền vững, ổn định của kinh tế đất liền. Bởi vì, biển là cửa ngõ mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và đối ngoại với quốc gia bên ngoài.
KTB không chỉ là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân mà còn là bộ phận hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay đối với nền kinh tế nước ta. Đó là các ngành, lĩnh vực kinh tế ven biển và trên biển, đảo như khai thác dầu khí, khoáng sản; kinh tế hàng hải; khai thác và chế biến Luan van 15 thủy hải sản; du lịch biển; xây dựng các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất ven biển gắn với phát triển khu đô thị ven biển. Biển không chỉ mang lại nguồn lợi to lớn về tài nguyên, thiên nhiên phong phú, đa dạng, hình thành nhiều ngành nghề KTB, thu hút lao động, tăng thu nhập cho người lao động và cho xã hội Thứ hai, nói đến KTB phải nói đến cả hai mặt: lực lượng sản xuất thuộc KTB và quan hệ sản xuất nảy sinh từ các hoạt động KTB. Lực lượng sản xuất thuộc KTB bao gồm: tư liệu sản xuất và người lao động.
Trong ngành KTB, tư liệu sản xuất cũng bao gồm cả công cụ lao động và đối tượng lao động; công cụ lao động và đối tượng lao động của KTB là ở biển hoặc trên bờ sát biển. Con người lao động trong ngành KTB là người lao động hoạt động trong lĩnh vực thuộc ngành KTB. Thực tế cho thấy, lực lượng sản xuất trong ngành KTB thường ở trình độ cao hơn, lao động trong môi trường cũng phức tạp hơn, chịu nhiều rủi ro hơn các ngành kinh tế khác. Vì vậy, lực lượng sản xuất trong ngành KTB đạt trình độ tương đối cao so với các ngành kinh tế khác.
Quan hệ sản xuất nảy sinh từ các hoạt động KTB bao gồm quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý, quan hệ phân phối trong hoạt động KTB, biểu hiện ở các thành phần kinh tế, các hình thức tổ chức kinh tế trong tất cả các ngành KTB. Phát triển kinh tế biển Khái niệm về phát triển kinh tế biển Phát triển KTB là sự tăng trưởng về số lượng, chất lượng của KTB đồng thời là sự hoàn chỉnh về cơ cấu và thể chế của KTB. Muốn đánh giá sự phát triển KTB phải xem xét mức tăng trưởng của các ngành KTB, mà tiêu chí là sự tăng lên về thu nhập từ các ngành KTB đem lại. Cùng với sự phát triển chung của KT-XH, KTB ngày càng phát triển mạnh mẽ tăng về cả số lượng, chất lượng các ngành nghề.
Phát triển KTB là sự thay đổi theo hướng công nghiệp sản xuất, khai Luan van 16 thác và dịch vụ ngày càng tăng, làm cho tổng giá trị sản lượng hàng hóa tăng lên, lao động nặng nhọc được giảm nhẹ, giá trị ngày công được đảm bảo tốt hơn do ứng dụng được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại vào trong quá trình sản xuất kinh doanh, chất lượng mọi mặt các ngành KTB ngày cành tăng về thu nhập, giá trị dịch vụ và công nghệ chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng giá trị sản lượng. Phát triển KTB là nhấn mạnh đến giá trị của các ngành KTB tăng nhanh hơn, bền vững hơn chiếm tỷ trọng GDP đáng kể. Điều này thể hiện rõ ở tất cả các ngành KTB nhất là khai thác đánh bắt, chế biến thủy, hải sản. Cùng với sự tăng trưởng KTB là hoàn chỉnh về cơ cấu và thể chế của KTB.
Sự đa dạng các ngành KTB là bộ phận hợp thành trong nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu ngành KTB bao gồm rất nhiều ngành nghề khác nhau như: nuôi trồng, khai thác, chế biển thủy, hải sản, khai thác dầu khí, đóng tàu, vận tải biển, du lịch biển, dịch vụ hàng hải và một số ngành nghề khác. Cơ cấu đa dạng đó đang chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH nhằm xây dựng cơ cấu KTB hợp lý, từng bước hiện đại và hội nhập với KTB quốc tế. Nội dung phát triển kinh tế biển KTB là một lĩnh vực kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực.
Bao gồm nhiều ngành, nghề, nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trên biển nhưng có quan hệ và tác động lẫn nhau. Quá trình phát triển của KTB phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện về địa lý, tiềm năng tài nguyên biển và vùng ven biển, thời tiết, khí hậu. đây là ngành kinh tế chủ yếu nhờ vào việc khai thác tài nguyên, khoáng sản là chính. Hoạt động KTB mang tính liên vùng, biểu hiện thông qua việc khai thác thủy, hải sản, khai thác dầu khí.
không chỉ dừng lại trong phạm vi vùng biển của địa phương mà diễn ra trên phạm vi thềm lục địa thuộc chủ quyền Việt Nam, do đó phát triển KTB phải chú trọng về số lượng, chất lượng và chuyển dịch cơ cấu KTB theo Luan van 17 hướng hợp lý, hiện đại. Trong Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 thể hiện rõ các nội dung sau: Về KT - XH: Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản về tài nguyên biển và bảo vệ môi trường biển; phát triển KHCN biển; xây dựng kết cấu hạ tầng biển gắn với phát triển mạnh các ngành dịch vụ; xây dựng tuyến đường ven biển, trong đó có một số đoạn cao tốc và các tuyến vận tải cao tốc trên biển Hình thành một số lĩnh vực kinh tế mạnh gắn với xây dựng các trung tâm kinh tế để ra biển, làm động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Đến năm 2020, phát triển thành công, có bước đột phá về KTB, ven biển gồm: khai thác, chế biến dầu khí; kinh tế hàng hải; khai thác và chế biến hải sản; phát triển du lịch biển và kinh tế hải đảo; xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển Trước mắt, sẽ tập trung đầu tư phát triển du lịch biển, xây dựng cảng biển, phát triển công nghiệp đóng tàu, phát triển những ngành dịch vụ mũi nhọn như vận tải biển, các khu kinh tế ven biển; tạo các điều kiện cần thiết bảo đảm an ninh, an toàn cho người dân hoạt động, sinh sống trên biển, đảo và ở những vùng thường bị thiên tai. Về chiến lược quốc phòng, an ninh, đối ngoại: Phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời Tổ quốc Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc gắn với thế trận an ninh nhân dân.
Xây dựng lực lượng vũ trang, nòng cốt là Cảnh sát biển, Hải quân, Không quân, Biên phòng, dân quân tự vệ biển mạnh, làm chỗ dựa vững chắc cho ngư dân và các thành phần kinh tế sản xuất và khai thác tài nguyên biển Luan van 18 Sớm xây dựng chính sách đặc biệt để thu hút và khuyến khích mạnh mẽ nhân dân ra đảo định cư lâu dài và làm ăn dài ngày trên biển, phát triển kinh tế kết hợp làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển của Tổ quốc. Về phát triển KHCN biển: Xây dựng tiềm lực KHCN biển đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, phục vụ hiệu quả quá trình CNH, HĐH đất nước Đẩy mạnh nghiên cứu và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ứng dụng KHCN, phục vụ công tác điều tra cơ bản, dự báo thiên tai và khai thác tài nguyên biển; nhanh chóng nâng cao tiềm lực KHCN cho nghiên cứu và khai thác tài nguyên biển, đáp ứng được yêu cầu giai đoạn phát triển mới của đất nước. Về xây dựng kết cấu hạ tầng biển: Phát triển mạnh hệ thống cảng biển quốc gia, xây dựng đồng bộ một số cảng đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, đặc biệt chú trọng các cảng nước sâu ở cả ba miền của đất nước, tạo những của mở lớn vươn ra biển thông thương với thế giới Tăng cường đầu tư chiều sâu, cải tiến đồng bộ và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, sớm khắc phục tình trạng lạc hậu về trình độ kỹ thuật - công nghệ các cảng; tăng nhanh năng lực bốc xếp hàng hóa, giảm thiểu tối đa chi phí, bảo đảm có sức cạnh tranh cao trong hội nhập kinh tế quốc tế Sớm hoàn chỉnh khai thác có hiệu quả hệ thống sân bay ven biển, xây dựng tuyến đường cao tốc chạy dọc theo bờ biển, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển thành một hệ thống KTB liên hoàn… Sự cần thiết phát triển KTB Xuất phát từ vai trò KTB, khả năng và điều kiện, yêu cầu khai thác tiềm năng biển cho phát triển KT - XH đất nước Nước Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, một biển lớn, quan trọng của khu vực và thế giới.