Chương 1 đề xuất các mô hình suy thoái và tỉ lệ lỗi của các thiết bị trong turbine gió dựa trên các dữ liệu thu thập được - Chương 2 và chương 3 thảo luận các vấn đề về độ tin cậy, tập trung vào đánh giá các mức độ của độ tin cậy của cả hệ thống Wind Turbine Condition Monitoring: Technical & Commercial Challenges (Wenxian Yang, Peter J. Qiub A National Renewable Energy Centre Renewable Energy Group, School of Engineering and Computing Sciences, The University of Durham, Durham DH1 3LE, U.) Tài liệu giới thiệu phương pháp bảo tri RCM (Reliability Centred Maintenance) cho các dự án điện gió xa bờ, nhằm mục tiêu các phương án bảo trì phù hợp dé tăng tính sẵn sàng của turbine và giảm chi phi. Phương pháp RCM dựa trên hệ thống giám sat CDM (condition monitoring system) khi thu thập và phân tích dữ liệu từ các hệ thống đo lường, từ đó chuẩn đoán các tình huống cho các thiết bị và đề xuất phương án bảo trì hợp lý cho điện gió xa bờ Wind Turbine Reliability Prediction - A Scada Data Processing & Reliability Estimation Tool (CHRISTOS KAIDIS - Master of Science in Wind Power Project Management 2013, Visby, Sweden) Bài báo thảo luận về vòng đời của các thiết bị trong turbine gió bằng việc xử lý các dữ liệu thu thập từ quá trình vận hành từ 2 nhà máy điện gió ở Châu Âu. Phương pháp dựa trên thu thập dữ liệu SCADA kết hợp với các nghiên cứu về xác suất thống kê của các thiết bị tương ứng.
Phụ thuộc vào đặc tính lỗi của các thiết bị cũng như thời gian khắc phục sự cố, bài báo đề xuất các phương án tối ưu bảo trì Maintenance Optimisation For Wind Turbine (JESSE AGWANDAS ANDRAWUS- A thesis submitted in partial fulfilment of the requirements of The Robert Gordon University) Nghiên cứu của Andrawus tập trung phát triển lĩnh vực đánh giá tài san (Assest Management) cho nhà máy điện gió vốn rất phát triển ở các ngành công nghiệp lâu đời (dầu khí, nhà máy điện.) nhưng chưa có nhiều ứng dụng trong lĩnh vực điện gió. Tối ưu hóa bảo trì để giảm chi phí bằng các chiến lược dựa trên phân 15 tích dữ liệu để mô hình hóa tỷ lệ lỗi của thiết bị, thời gian mắt mát do tiến hành bảo trì, sự thiếu hụt nhân lực, thiết bị đặc biệt cho bảo trì. Wind Turbine Reliability: A Database and Analysis Approach (Roger R. Stinebaugh, Daniel Briand, Sandia National Laboratories Dr.
Benjamin and James Linsday, ARES Corporation) Nghiên cứu từ phòng Lab Sandia - My nhằm giải quyết chi phi vận hành va bảo trì tác động như thé nào đến độ 6n định của nhà máy — dựa trên các kinh nghiệm về tỷ lệ lỗi của thiết bị và hệ thống. Các công cụ đánh giá độ tin cậy được đề xuắt, việc thu thập dữ liệu từ các nha máy điện gió được tiến hành. Mục tiêu của báo cáo nhằm hiểu hơn về việc cải thiện độ tin cậy trong vận hành cho nhà máy l6 CHƯƠNG 2 LÝ THUYÉT ĐỘ TIN CẬY Chương này giới thiệu các lý thuyết về độ tin cậy, các công thức toán học để xác định mô hình tỷ lệ lỗi của các thiết bị riêng rẽ cũng như cho toàn hệ thống. Các phương pháp đánh giá tầm quan trọng của các thiết bị trong hệ thống cũng được đề cập 21 Giới thiệu 2.1 Lịch sử lý thuyết độ tin cậy Độ tin cậy về con người đã được nghiên cứu và phát triển trong một thời gian rất dài.
Tuy nhiên đối với kỹ thuật hệ thống, khái niệm độ tin cậy đã không được nghiên cứu một cách bài bản cho tới gần đây nhất vào những năm 60 của thế kỷ 20. Nó xuất hiện đầu tiên sau Thế chiến | và đã được ứng dụng trong kết nói với so sánh an toàn hoạt động của một, hai và bốn động cơ máy bay. Độ tin cậy được đo như số vụ tai nạn mỗi giờ bay theo thời gian. Vào đầu những năm 1930, Walter Shewhart, Harold F.
Dodge, và Harry G. Romig đặt ra cơ sở lý thuyết cho việc sử dụng phương pháp thống kê chất lượng kiểm soát các sản phẩm công nghiệp. Những phương pháp này, tuy nhiên, không được đưa vào sử dụng một cách rộng rãi trong Thế chiến II. Trong Thé chiến II một nhóm nhà khoa học ở Đức đã làm việc dưới sự điều hành của Wernher von Braun để phát triển các tên lửa V-1, sau chiến tranh, các kết quả báo cáo rằng tên lửa 10V- 1 đầu tiên hoàn toàn that bai.
Bat chấp những nỗ lực dé cung cấp các bộ phận có chat lượng cao và sự chú ý can thận để biết chỉ tiết, tất cả các tên lửa đầu tiên hoặc phát nỗ trên bệ phóng hoặc hạ cánh "quá sớm ". Robert Lusser, một nhà toán học, được yêu cầu giải quyết vấn đề, nhiệm vụ của ông là phân tích các hệ thống tên lửa, và ông đã nhanh chóng phát triển giả thuyết Quy luật xác suất của chuỗi các thiết bị. Giả thuyết này xem xét các hoạt động của cả hệ thống chỉ khi tất cả các thành phần trong hệ thống đang hoạt động và có hiệu lực dưới những giả định đặc biệt 17 Và kết quả chứng minh rằng độ tin cậy của hệ thống sẽ bằng với độ tin cậy của các thành phan riêng lẻ tạo thành hệ thống. Nếu hệ thống bao gồm một số lượng lớn các thành phần, độ tin cậy hệ thống có thể do đó sẽ thấp đi mặc dù các thành phần riêng biệt có độ tin cậy cao.
Tại Hoa Ky, những thí nghiệm đã được thực hiện để cải thiện độ tin cậy hệ thống thấp bởi nâng cao chát lượng của các thành phần riêng lẻ. Nguyên liệu và thiết kế tốt hơn cho các sản phẩm được yêu cầu, và kết quả là độ tin cậy hệ thống cao hơn, đây là nền móng dé phát triển lĩnh vực đánh giá độ tin cậy sau này. Sau chiến tranh thế giới II, việc phát triển nhanh chóng công nghệ trên toàn thế giới (Tivi, điện thoại, các thiết bị kết nói. Đồng thời lĩnh vực tự động ngày càng phát triển đã tạo ra nhu cầu về tính 6n định và an toàn của các hệ thống.
Do đó lĩnh vực đánh giá độ tin cậy được nghiên cứu và phát triển ngày càng tăng Vào cuối của 1950 và đầu những năm 1960, Hoa Kỳ tập trung vào các tên lửa đạn đạo liên lục địa và nghiên cứu không gian, đặc biệt là kết nối với các chương trình Mercury và Gemini. Trong cuộc đua với Nga để trở thành quốc gia đầu tiên đưa người lên mặt trăng, các thiết bị phóng tên lửa và phi thuyền có người lái là một thành công lớn trong lĩnh vực công nghệ tự động. An phẩm đầu tiên về độ tin cậy là vào năm 1963 phát hành bởi IEEE, và sau đó là hàng loạt sách về độ tin cậy được phát hành Năm 1970, ở Hoa Kỳ cũng như ở các nước khác, một van đề hóc búa khác được đặt ra, đó là đánh giá khía cạnh rủi ro và an toàn khi xây dựng và hoạt động của các nhà máy điện hạt nhân. Tại Hoa Kỳ, một ủy ban nghiên cứu lớn, dẫn đầu bởi Giáo sư Norman Rasmussen đã được thiết lập để phân tích vấn đề.
Hàng trăm triệu đô la đã được đổ vào cho dự án, và kết quả là bài báo cáo của Rasmussen: WASH-1400 (NUREG-75/014).Mặc dù vẫn còn những điểm yếu của mình, báo cáo này đại diện cho các phân tích an toàn một cách nghiêm túc đầu tiên cho một hệ thống phức tạp như là một nhà máy điện hạt nhân. Công việc tương tự cũng đã được tiến hành tại châu Âu và châu Á. Trong đa số các ngành công nghiệp ngày nay, rất nhiều nghiên cứu và ứng dụng về lý thuyết độ tin cậy đã được sử dụng để phân tích các vấn đề về rủi ro và độ tin cậy. Đặc biệt trong ngành công nghiệp dầu khí ngoại khơi tại Nauy và các nước Bắc Âu hiện nay đang đầu tư vào các mỏ dầu ngày càng sâu hơn, cũng như khả năng tự động hóa của các dàn khoan trong quá trình vận hành.
Tam quan trọng của độ tin cậy của hệ thống dưới biển trong nhiều khía cạnh có thể so sánh tương tự với độ tin cậy của tàu vũ trụ. Một hệ thống có độ tin cậy thấp không thể bù trừ bởi việc mở rộng các khả năng bảo trì 18 Lịch sử chi tiết hơn về công nghệ độ tin cậy được trình bày ở các bài báo của Knight (1991), và Villemeur (1988).2 Các phương pháp dé phân tích độ tin cậy Chúng ta có thể phân biệt 3 nhánh chính trong độ tin cậy: - 6 tin cậy cho phần cứng (bao gồm các chỉ tiết cơ khí, các cấu kiện xây dựng.) - 6 tin cậy cho phần mềm (là các chương trình vận hành, kiểm soát. cho hệ thống) - 6 tin cậy về con người (các van đề liên quan tới người xây dựng và van hành) Với độ tin cậy cho phần cứng, ta có thể ứng dụng 2 phương pháp khác nhau - - Phương pháp vật lý - Phuong pháp thống kê Phương pháp vật lý: sức bền của chi tiết kỹ thuật được mô phỏng như một biến ngẫu nhiên S. Các chỉ tiết kỹ thuật này hoạt động với yêu cầu tải trọng trong điều kiện thực tế được mô phỏng như là một biến ngẫu nhiên L Hàm phân bố xác suất của sức bèn và tải được minh họa trong hình sau A Load Strength distribution distribution A Vv “Failure area” Hình 2.1 — Ham phân bố xác suất tải trong va sức bền Sự hỏng hóc xảy ra ngay khi tải cao hơn sức bền.
Độ tin cậy R của thiết bị được định nghĩa là xác suất mà sức bền lớn hơn tải hoạt động R=Pr(S >L) [1] Với Pr(A) là xác suất của biến có A Tải trọng thường sé thay đổi theo thời gian và có thé được mô hình hóa như một biến phụ thuộc thời gian L(t). Các thiết bị sẽ bị suy thoái theo thời gian bởi cơ chế hỏng hóc như ăn mòn, hao mòn thiết bị, hiện tượng mỏi của các chỉ tiết cơ khi.Strc bền của các thiết bị do đó cũng là một hàm của thời gian, S(t). Mối liên hệ giữa S(t) va L(t) được minh họa trong hình sau 19 A Strength, S(t) Failure Load, L(t) (NI NIN 0 > << Time to failure, T >| Time t Hình 2.