Chương 1: Giới thiệu 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu về sự tăng trưởng phi tuyến của lá Lan Hồ Điệp và ước lượng các tham số liên quan đến quá trình này. Các nghiên cứu trước đây đã tiến hành so sánh ba phương trình tăng trưởng phi tuyến để đánh giá dữ liệu chiều dài lá của hai giống cây khác nhau. Đó là áp dụng phương trình: Monomecular b1t L1 Lf 1 a1(1 e ) Trong đó L1 : chiều dài lá tại thời điểm t Lf 1 : chiều dài cực đại của lá lan hồ điệp a1, b1 : các hằng số phản ánh tốc độ tăng của lá Và phương trình Gompertz t c3 b3 L3 a3ee Trong đó a 3, b3, c3 : các hằng số phản ánh tốc độ tăng của lá Các nghiên cứu trước đó đã ước lượng các tham số của các phương trình tăng trưởng phi tuyến và phân tích kết quả thu được. Kết quả của những nghiên cứu này đã chỉ ra rằng phương trình logistic là phương trình tốt nhất để mô tả mối quan hệ giữa chiều dài lá và số ngày nuôi.
5 Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, giả thiết vẫn còn tồn tại một mức độ sai số có thể làm nhỏ hơn nữa. Điều này có nghĩa là các tham số của mô hình logistic hiện tại [1] vẫn chưa thể phản ánh tốt nhất mối quan hệ giữa chiều dài lá và số ngày nuôi. Do đó, nghiên cứu tiếp theo cần tìm hiểu và cải thiện độ chính xác của mô hình để tạo ra kết quả ước lượng chính xác hơn về tăng trưởng lá Lan Hồ Điệp.2 Lý do chọn đề tài Trong [1], Chen và cộng sự đề xuất sử dụng phương trình Logistic để mô phỏng sự tăng trưởng chiều dài lá Lan Hồ Điệp. Trong đó, phương trình Logistic được mô tả như sau: Lf L= (1.1) 1 + e − b ( t − x0 ) Trong đó: L: Độ dài lá tại thời điểm t.
L f : Độ dài cực đại của lá Lan Hồ Điệp. b: Tham số phản ánh tốc độ tăng trưởng của lá trong điều kiện về ánh sáng và phân bón. x 0 : thời điểm uốn của hàm. Để áp dụng phương trình Logistic trong (1.1), chúng ta cần xác định 3 tham số L, b và x 0.
Trong [1], các tác giả đã sử dụng phương pháp tính xấp xỉ 3 tham số này dựa trên dữ liệu tăng trưởng chiều dài lá trong suốt 45 ngày quan sát. Điều này được thực hiện trong các điều kiện môi trường khác nhau, bao gồm nhiệt độ ban ngày, cường độ ánh sáng và tỷ lệ phân bón, để tính toán ra các bộ tham số tương ứng cho từng điều kiện cụ thể [1]. Hình dưới đây minh họa việc này: 6 Hình 1. 1: Bảng giá trị bộ tham số L, b và x0 trong các điệu kiện khác nhau.
Dựa vào các kết quả trong [1], chúng tác giả luận văn đã tiến hành làm thực nghiệm để đánh giá sai số giữa dữ liệu thực tế và dữ liệu mô phỏng được tạo ra từ công thức (1.1) với bộ tham số L f , b và x 0 được công bố trong [1]. Sai số được đánh giá theo độ đo RMSE như sau: n (L − L ) i i 2 RMSE = i =1 n Trong đó Li : Độ dài lá, đo được tại ngày thứ i. Li : Kết quả mô phỏng độ dài lá tại ngày thứ i. n: Số ngày theo dõi sự tăng trưởng độ dài lá.
Sau khi thực nghiệm, chúng tác giả luận văn đã tính toán được sai số do áp dụng phương pháp trong [1], và giá trị sai số nằm trong khoảng từ 2 đến 4. Từ góc độ xử lý thông tin chuỗi thời gian, đây là một sai số lớn. Vì vậy, chúng tác giả luận văn đã tìm cách giảm thiểu sai số này. Trong quá trình tìm kiếm giải pháp, chúng tác giả luận văn đã chọn thuật toán LMS để tính lại các tham số L f , b và x 0 sao cho sai số RMSE nhỏ hơn phương pháp mà Chen đã áp dụng trong [1].
Với kết quả sơ bộ, khi áp dụng thuật toán LMS, độ đo sai số RMSE đã giảm xuống xung quanh giá trị 0,5. Kết quả sơ bộ như vậy đã khích lệ chúng tác giả luận văn tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cơ sở khoa học của thuật toán, cũng như khả năng áp dụng thuật toán cực tiểu hóa vào các ứng dụng cụ thể.3 Mục tiêu nghiên cứu 7 Sai số của mô hình Logistic mô phỏng độ dài lá lan hồ điệp nhỏ hơn sai số trong bài báo của Chen.4 Đối tượng nghiên cứu Phương trình Logistic mô phỏng sự tăng trưởng chiều dài lá Lan Hồ Điệp. Phương pháp tính các tham số của phương trình Logistic. Thuật toán LMS để tối thiểu hóa sai số.5 Phạm vi nghiên cứu Tính lại các tham số của phương trình Logistic để giảm sai số giữa dữ liệu mô phỏng và dữ liệu thực tế.6 Ý nghĩa đề tài Bộ tham số mới cho phương trình logistic với sai số nhỏ hơn.
Giảm thiểu sai số cho phương trình. 8 Chương 2: Đề xuất áp dụng thuật toán LMS để tối thiểu hóa sai số của phương trình Logistic 2.1 Phương trình tăng trưởng Logistic Mô hình tăng trưởng Logistic, cũng được biết đến như mô hình tăng trưởng dân số Logistic, đã được P. Verhulst đưa ra để giải quyết Bài toán dự đoán dân số Mỹ vào thời điểm năm 1840. Mô hình này được áp dụng để mô tả sự phát triển dân số theo thời gian với sự giới hạn của các yếu tố như tài nguyên, không gian và sinh sản.
Để minh hoạ việc áp dụng mô hình Logistic, ta có số liệu về dân số Mỹ trong giai đoạn từ năm 1790 đến năm 1890 như sau: Bảng 2. 1: Số liệu dân số Mỹ trong giai đoạn từ năm 1970 - 1890 Dân số Năm (triệu người) 1790 3.069 Biểu diễn dưới dạng biểu đồ như sau: 9 Hình 2. 1: Biểu đồ tăng trưởng dân số Mỹ giai đoạn 1790 – 1840. Qua quan sát biểu đồ, P.
Verhulst đã mô tả tốc độ tăng trưởng qua phương trình tuyến tính đơn giản sau: dP = rP dt Trong đó: dP : sự thay đổi của số lượng dân số. dt : đại diện cho thời gian. P : số lượng quần thể. r : hằng số tỷ lệ Least Mean Square.
Theo [2], P tăng trưởng theo hàm mũ và được tính theo một hàm phụ thuộc thời gian t: P(t ) = P0ert Trong đó: P(t ) : đại diện cho một biến số tại một thời điểm. P0 : số lượng quần thể tại t = 0. r: tốc độ tăng trưởng. 10 Trên thực tế, mọi quần thể đều có một giới hạn tăng trưởng, được biểu thị bởi một giá trị chặn trên K.
Khi số lượng cá thể trong quần thể tiến đến giới hạn này (P = K), tốc độ tăng trưởng (dP/dt) sẽ bằng 0. Điều này có nghĩa là sự tăng trưởng của quần thể dần dừng lại khi đạt đến giới hạn. Phương trình mô tả sự tăng trưởng của quần thể có thể được biểu diễn như sau: dP P = rP 1 − (2.1) dt K Khi P = K quần thể đạt trạng thái cân bằng. Tiệm cận đến trạng thái cân bằng ổn định khi số lượng của quần thể P=C sao cho bất kỳ P(t) bắt đầu tại C.
Khi đó, P(t) được gọi là hội tụ đến P = C: lim P(t) = C n→ Trạng thái cân bằng không ổn định khi tồn tại ít nhất một nghiệm xuất phát từ lân cận điểm cân bằng và rời xa điểm cân bằng: lim(P(t) − C) = n→ Các tham số của phương trình (1) được ước lượng thông qua độ dốc của biểu đồ tăng số lượng của quần thể như sau: Hình 2. 2: Ước lượng các tham số của phương trình. 11 dP tại năm 1800 được tính xấp xỉ thông qua độ dốc (tg ) giữa dữ liệu năm 1790 và dt năm 1810 dP P(1810) − P(1790) = dt 20 Vì dữ liệu dân số từ năm 1790 đến năm 1840 có dạng tuyến tính nên cũng có thể biểu diễn dưới dạng: y = mx + b r Từ (1) suy ra m = − và b = r k Nếu chọn điểm bắt đầu là năm 1790 thì b = P(1790) = 3. Từ đó suy ra K.2 Sai số trung bình bình phương Sai số trung bình bình phương (RMSE) là một phép đo độ lớn trung bình của sai số giữa các dự đoán và giá trị thực tế, được tính theo đơn vị của biến phụ thuộc.
Nó là một trong các biện pháp đánh giá phổ biến nhất để đo chất lượng dự đoán. RMSE cho thấy mức độ giảm xa giữa các dự đoán và các giá trị thực tế, được tính bằng cách sử dụng khoảng cách Euclide. Để tính RMSE, ta cần thực hiện các bước sau: • Tính phần dư, tức chênh lệch giữa giá trị dự đoán và giá trị thực tế, cho từng điểm dữ liệu. • Tính bình phương của phần dư cho từng điểm dữ liệu.
• Tính giá trị trung bình của các bình phương phần dư. • Lấy căn bậc hai của giá trị trung bình đó để có kết quả RMSE. Công thức tính RMSE là: ( ) n 2 yi − yi RMSE = i =1 n 12 Trong đó: yi : là giá trị dự đoán. y i : là gí trị đúng.
n: là số phần tử. 3: Minh họa RMSE. RMSE tính toán bình phương của sai số trước khi lấy căn bậc hai, dẫn đến tính chất nhạy cảm với các giá trị sai số lớn. Khi sai số giữa giá trị dự đoán và giá trị thực tế càng lớn, giá trị RMSE cũng tăng theo.
Vì vậy, RMSE được sử dụng để đánh giá chất lượng dự đoán của mô hình, và mô hình được coi là tốt hơn khi giá trị RMSE càng nhỏ.3 Thuật toán tối thiểu hóa sai số trung bình bình phương (Least Mean Square) Least Mean Square (LMS) là một thuật toán thích nghi được sử dụng để tìm các trọng số tối ưu tại một thời điểm cho một mô hình tổ hợp thích nghi tuyến tính [3]. Nó được áp dụng trong các bài toán hồi quy, trong đó mục tiêu là dự đoán giá trị đầu ra dựa trên các giá trị đầu vào. 13 Giả sử ta có một mô hình với các biến đầu vào x1 , x2 ,., xn và đầu ra là y. Mô hình được biểu diễn dưới dạng một hàm tuyến tính: y = w0 + w1 x1 + w2 x2 +.
+ wn xn Trong đó: w0 ,w1 ,w2 ,.,wn : là các trọng số cần tìm. 4: Mô hình tuyến tính. Thuật toán LMS tính toán lượng điều chỉnh của trọng số dựa trên sai số giữa các trị dự đoán và giá trị thực tế, và cập nhật trọng số để giảm thiểu sai số này.