CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về các loại kết cấu mặt đường hiện nay Hiện nay, ở nước ta đang sử dụng nhiều loại mặt đường khác nhau cho các tuyến đường khác nhau, tùy thuộc vào mục đích sử dụng, phục vụ mỗi nhu cầu giao thông, vận tải mà sử dụng loại mặt đường phù hợp. Trong đó phân chia thành 2 loại mặt đường chính: Mặt đường mềm và mặt đường cứng (phân loại theo độ cứng) Mặt đường mềm: Gồm có lớp mặt và các lớp móng. Lớp mặt là lớp chịu tác dụng trực tiếp của tải trọng, các yếu tố môi trường.
Mặt đường mềm có hai loại: Mặt đường mềm có lớp móng bằng vật liệu hạt và mặt đường mềm có móng bằng vật liệu hạt gia cố. Mặt đường mềm là loại mặt đường được sử dụng rộng rãi ở nước ta, cũng như trên thế giới. Mặt đường mềm được sử dụng phổ biến nhất đó là mặt đường bê tông nhựa. Mặt đường mềm có lớp móng bằng vật liệu hạt: Lớp móng bằng vật liệu hạt không gia cố chất kết dính, làm cho độ cứng của kết cấu mặt đường nhỏ, phụ thuộc vào cường độ đất nền, và chiều dày lớp móng.
Vì độ cứng của mặt đường nhỏ, chiều dày mỏng nên lực tác dụng thẳng đứng do tải trọng bánh xe truyền xuống nền theo một góc phân bố ngang nhỏ. Dưới tác dụng của ứng suất thẳng đứng lớn và trùng phục sẽ gây biến dạng dẻo trong nền móng, trong kết cấu mặt đường tạo thành các vệt lún, các vệt trồi trên mặt đường. Mặt đường mềm có móng bằng vật liệu gia cố nhựa: Mặt đường này có nhiều lớp nhựa, thường xây dựng trên các tuyến đường có nhiều tải trọng nặng, hoặc làm trên các kết cấu mặt đường tăng cường. Mặt đường cứng: Mặt đường sử dụng các tấm bê tông xi măng, bê tông cốt thép liên tục hoặc không liên tục, các tấm bê tông cốt thép dự ứng lực, với 5 cường độ bê tông lớn, độ cứng lớn.
Mặt đường này có độ cứng rất lớn nên thu nhận hầu hết tải trọng do xe gây ra và truyền xuống lớp móng trên một diện tích rộng nên ứng suất tác dụng lên lớp móng là nhỏ. Do tấm bê tông xi măng chịu lực chủ yếu nên tấm phải có cường độ chịu uốn cao, đồng thời có độ dự trữ cao chịu được tác dụng trùng phục của tải trọng, và tấm phải chịu được sự bào mòn. Lớp móng trong mặt đường cứng không chịu lực chính trong kết cấu, nhưng phải được cấu tạo đồng đều, ổn định. Lớp móng trong mặt đường cứng thường sử dụng các vật liệu hạt gia cố như cát, đá gia cố xi măng, bê tông nghèo.
Mặt đường bê tông nhựa 1. Giới thiệu mặt đường bê tông nhựa Mặt đường bê tông nhựa là loại mặt đường phổ biến trong kết cấu áo đường mềm, sử dụng hỗn hợp bê tông nhựa làm lớp mặt. Bê tông nhựa (gồm bê tông polyme, bê tông asphalt) là hỗn hợp đá – nhựa rải đường chế tạo bằng cấp phối khoáng vật liên kết với nhựa. Thường thì chất liên kết là bitum, một hợp chất hữu cơ được chế tạo từ dầu mỏ.
Cốt liệu khoáng vật chủ yếu dùng trong bê tông nhựa thường là đá xay, xỉ quặng xay, thêm cát hay cát xay và bột khoáng Tùy theo yêu cầu và mục đích sử dụng cụ thể mà người ta sẽ xác định tỉ lệ hợp lý các thành phần rồi nhào trộn, gia công thành một hỗn hợp đồng nhất. Thông thường, bê tông nhựa được chế tạo nóng, nhiệt độ sử dụng (trộn) khoảng1630C và dùng nhựa có độ nhớt cao. Người ta hay dùng nhựa đặc có độ kim lún 50-:-60, 60-:-70, và 85-:-100 là các loại nhựa khá mềm nhằm cung ứng một mặt đường có khả năng chống oxy hóa cũng như ảnh hưởng của thời tiết khá cao, ít bị rạn nứt. Bê tông nhựa thường chứa hơn 90% về khối lượng là cốt liệu là khoáng vật, nhựa chỉ chiếm từ 3-:-9% (trừ vữa nhựa bê tông nhựa dẻo có thể chứa tới 12% nhựa).
6 Áo đường mềm là thuật ngữ dùng để mô tả câu trúc mềm của vật liệu làm áo đường, phổ biến là mặt đường bê tông nhựa. Theo quan điểm thiết kế kết cấu áo đường thông thường, khi các phương tiện xe cộ lưu thông trên đường thì tải trọng của chúng sẽ truyền xuống nền đất thông qua các lớp kết cấu, bao gồm tầng mặt (có một đến ba phân lớp nhỏ) và tầng móng (lớp móng trên và móng dưới). Đối với mặt đường bê tông nhựa, diện truyền tải bé nên tác động sâu hơn tới các lớp bên dưới [5] Mặt đường bê tông nhựa chi phí giá thành không đắt, chịu được tải trọng tương đối lớn nên được sử dụng phổ biến ở hầu hết các tuyến đường ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên mặt đường bê tông nhựa với độ cứng thấp, tính ổn định với môi trường kém (đặc biệt là nhiệt độ và nước) nên thường xuất hiện nhiều hư hỏng mặt đường, dẫn đến hư hỏng các lớp móng bên dưới.
Các hư hỏng chủ yếu của mặt đường bê tông nhựa Nứt: Nứt dọc, nứt phản ánh, nứt da cá sấu, nứt cạnh. Biến dạng: Lún vệt bánh xe, trồi-sụt nhựa. Bong tróc, bong bật, ổ gà. Ưu điểm – khuyết điểm mặt đường bê tông nhựa a.
Ưu điểm Về mặt kinh tế: Mặt đường bê tông nhựa có giá thành rẻ, không quá cao, thích hợp với điều kiện kinh tế còn hạn hẹp ở nước ta. Về mặt công nghệ chế tạo, thi công: Công nghệ chế tạo, thi công mặt đường bê tông nhựa ở nước ta đã được triển khai, khai thác từ lâu. Các cơ quan, nhà thầu thi công đã nắm được công nghệ thi công Về mặt giao thông: Mặt đường mềm có độ cứng thấp nên lưu thông êm thuận 7 b. Nhược điểm Ở nhiệt độ thấp, mặt đường bê tông nhựa tiệm cận nhiệt độ hóa cứng làm cho kết cấu áo đường trở nên cứng, dòn, dễ gãy khi chịu tác dụng của tải trọng Ở nhiệt độ cao, kết cấu mặt đường bê tông nhựa trở nên mềm, dẻo làm cho mặt đường dễ bị các biến dạng khi chịu tác dụng tải tải trọng, đặc biệt ở nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có nền nhiệt cao thì kết cấu áo đường mềm càng trở nên không phù hợp Tuổi thọ bình quân khai thác thấp, độ bền kém.
Mặt đường áo đường mềm chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố thủy nhiệt (nhiệt độ, độ ẩm) làm cho kết cấu áo đường mau chóng hư hỏng, độ bền khai thác kém. Chi phí duy tu, sửa chữa cao. Vì kết cấu áo đường mềm có độ bền kém, dễ hư hỏng nên chi phí duy tu sửa chữa lớn. Mặt đường mềm hấp thụ ánh sáng mạnh nên khi đi vào ban đêm giảm độ an toàn cho người và phương tiện tham gia giao thông.
Mặt đường bê tông xi măng 1. Giới thiệu mặt đường bê tông xi măng Mặt đường bê tông xi măng (mặt đường bê tông xi măng đổ tại chỗ, mặt đường bê tông xi măng cốt thép, mặt đường bê tông xi măng cốt thép dự ứng lực, mặt đường tấm bê tông xi măng tự chèn), mặt đường bê tông xi măng sử dụng hỗn hợp bê tông xi măng làm mặt đường. Bê tông xi măng là hỗn hợp được tạo từ tỷ lệ các loại vật liệu xi măng, cát, đá, nước, chất phụ gia (nếu có); tùy vào yêu cầu mà các tỷ lệ thành phần vật liệu thay đổi phù hợp. Trên thế giới, mặt đường bê tông xi măng cũng đã được đưa vào nhiều tuyến đường.
Ở Việt Nam, mặt đường bê tông xi măng chiếm tỷ lệ rất thấp, chủ yếu được sử dụng cho các công trình nông thôn với bê tông xi măng sử dụng cường độ không cao, đường sân bay, tại các trạm thu phí, trạm dừng chân. Phát triển mặt đường Bê tông xi măng trên thế giới Mặt đường BTXM xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, bắt đầu ở Anh vào những năm 1950, sau đó lan dần sang Pháp, Đức, Mỹ và Nga…Trong suốt hơn 100 năm qua, mặt đường BTXM đã được tiếp tục xây dựng và phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới, tập trung nhiều nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển như: Canada, Hoa Kỳ, CHLB Đức, Anh, Bỉ, Hà Lan, Australia, Trung Quốc… Mặt đường BTXM (mặt đường cứng) cùng với mặt đường mềm là 2 loại hình mặt đường chính được sử dụng cho giao thông đường bộ và sân bay, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên mạng lưới giao thông của các khu vực, lãnh thổ và xuyên quốc gia. Mặt đường BTXM có mặt trên tất cả các cấp đường giao thông đường bộ, từ địa phương, hệ thống tỉnh lộ, quốc lộ, từ đường có lưu lượng xe thấp đến đường phố, đường trục chính, đường cao tốc. Mặt đường BTXM cũng thường được sử dụng ở hầu hết các sân bay, bến cảng, các đường chuyên dụng và các bãi đỗ xe.
Ngày nay, mặt đường BTXM vẫn luôn được các nhà nghiên cứu các nhà quản lý rất quan tâm. Hệ thống Tiêu chuẩn ngày càng hoàn thiện và công nghệ xây dựng ngày càng phát triển đồng bộ và hiện đại. Hàng năm, những hội nghị tổng kết phổ biến kinh nghiệm và những nghiên cứu phát triển mới về loại hình mặt đường BTXM của thế giới vẫn được duy trì thường niên và phạm vi áp dụng của mặt đường BTXM ngày càng được mở rộng. Khối lượng mặt đường BTXM đã xây dựng ở một số nước (trích rừ Báo cáo Long - Life Concrete Pavements in Europe and Canada” của Cục Đường bộ Liên bang Mỹ - FHWA công bố năm 2007) được thống kê dưới đây: Mỹ, mặt BTXM chiếm khoảng 9% của 490179 km đường đô thị và 4% của 1028491 km đường ngoài đô thị.
9 Tỉnh Québec, Canada có 1239 km (đường 2 làn xe) trong tổng số 29000 km đường (khoảng 4%) là mặt đường BTXM nhưng lại phục vụ tới 75% lượng giao thông ở Québec. Đức, mặt đường BTXM không cốt thép, phân tấm chiếm khoảng 25% mạng lưới đường cao tốc với lưu lượng giao thông cao. Áo, đường cao tốc chiếm khoảng 25% mạng lưới đường bộ quốc gia (14000 km), trong đó mặt đường BTXM chiếm 2/3 khối lượng đường cao tốc. Bỉ, mạng lưới đường khoảng 134000 km, gồm đường cao tốc, đường tỉnh, đường địa phương và đường nông thôn.
Trong đó, đường cao tốc có khoảng 1700 km, tức là chỉ hơn 1%. Mặt đường BTXM chiếm 40% của những đường cao tốc và 60% đường nông thôn. Tổng cộng, mặt đường BTXM chiếm khoảng 17%. Hà Lan, mạng lưới đường ô tô có khoảng 113000 km.
Khoảng 2300 km là đường cao tốc, chỉ khoảng 2% về chiều dài, nhưng những con đường cao tốc này phục vụ 38% lưu lượng giao thông.