Chương 1 Kiến thức chuẩn bị 1.1 Lý thuyết ước lượng trạng thái các hệ điều khiển Trong lý thuyết điều khiển, một bộ quan sát trạng thái là một hệ động lực phản ánh dáng điệu của một hệ thống vật lý, nó được thiết kế dựa trên các thông tin đo được của đầu vào và đầu ra của hệ để cung cấp một ước lượng của các trạng thái bên trong của hệ động lực đó. Yêu cầu đầu tiên trong việc thiết kế một bộ quan sát trạng thái là trạng thái của bộ quan sát phải hội tụ tới giá trị thực tế của các trạng thái hệ thống. Yêu cầu tiếp theo đó là đưa ra các điều kiện để tồn tại bộ quan sát trạng thái. Một số ứng dụng trực tiếp của bài toán quan sát trạng thái bao gồm: sử dụng thông tin trạng thái do ước lượng được để thiết kế điều khiển cho hệ động lực đang xem xét; sử dụng thông tin ước lượng để giải quyết bài toán phát hiện, cô lập và ước lượng các lỗi đường truyền cũng như lỗi cảm biến.
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của bài toán điều khiển thì bài toán quan sát trạng thái cũng được bắt đầu nghiên cứu. Trên thực tế, không phải lúc nào ta cũng ước lượng được toàn bộ vectơ trạng thái của hệ điều khiển. Mặt khác, nếu ta có thể ước lược được tất cả các thành phần của vectơ trạng thái thì đôi khi ta cũng không sử dụng toàn bộ thông tin ước lượng được. Bởi vì khi sử dụng toàn bộ thông tin trạng thái ước lượng thì bậc của bộ quan sát sẽ cao hơn dẫn đến độ phức tạp sẽ tăng lên, các thiết bị tương ứng đi kèm theo phải nhiều hơn, do đó chi phí vận 5 6 hành sẽ tăng lên.
Để giảm chi phí, độ phức tạp khi vận hành, ta chỉ cần ước lượng một số thành phần cần thiết của trạng thái mà thôi. Tổng quát cho vấn đề này là chỉ cần ước lượng một hàm của biến trạng thái. Vì tính ứng dụng hữu hiệu cho nhiều bài toán điều khiển thực tế, nên hướng nghiên cứu về thiết kế quan sát hàm trạng thái cho các hệ điều khiểu chịu tác động của trễ và nhiễu đã thu hút sự quan tâm sâu rộng của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Trên thực tế có nhiều hệ thống mà có nhiều độ trễ xuất hiện ở biến trạng thái cũng như đầu ra.
Huynh (Đại học Deakin, Úc) đã đề xuất một phương pháp mới để nhận được các phép chuyển đổi trạng thái cho một lớp hệ phương trình vi phân tuyến tính có nhiều trễ trong biến trạng thái và thông tin đầu ra. Các phép chuyển đổi này có thể được dùng để chuyển các hệ phương trình vi phân tuyến tính có trễ trên về các hệ phương trình vi phân tuyến tính có trễ (trễ trong biến trạng thái và thông tin đầu ra được chuyển về trễ trong thông tin đầu vào và thông tin đầu ra). Với các hệ mới này ta dễ dàng thiết kế được bộ quan sát dạng Luenberger. Từ đó ta có thể ước lượng được toàn bộ các biến trạng thái không bị trễ hoặc toàn bộ các biến trạng thái với một độ trễ hoặc một số biến trạng thái không bị trễ và một số biến trạng thái bị trễ.
Phương pháp này bộc lộ nhiều ưu việt hơn phương pháp của M. Các hệ dương là các hệ động lực mà trạng thái của chúng là không âm đối với bất kỳ điều kiện ban đầu không âm và bất kỳ đầu vào không âm. Có rất nhiều hệ thống trong y học, sinh học, cơ học được mô tả bởi hệ dương. Đã có nhiều kết quả về thiết kế các bộ quan sát trạng thái với bậc đầy đủ cho các hệ dương.
Tuy nhiên, chưa có nhiều kết quả về thiết kế bộ quan sát giảm bậc hay bộ quan sát hàm cho lớp các hệ dương. Nahavandi đã đề xuất bộ quan sát trạng thái dương cho một lớp hệ tuyến tính dương, có trễ. Cũng vậy, các hệ ghép nối bao gồm nhiều hệ con kết nối với nhau thường được dùng để mô tả các hệ thống thực tế phức tạp như hệ thống điện, nước, các hệ có cấu trúc mạng,.Trên thực tế cũng đã có một số kết quả về việc thiết kế bộ quan sát trạng thái để ước lượng trạng thái của các lớp hệ dạng này, chẳng hạn, năm 2018, H. Huong đã thiết kế được bộ quan sát trạng thái cho một lớp hệ ghép nối dương.
Mặc dù đã có nhiều kết quả về bài toán thiết kế quan sát hàm trạng thái cho các lớp hệ phi tuyến nhưng đối với những 7 hàm phi tuyến chỉ thỏa điều kiện Lipschitz một phía thì các kết quả hiện có không thể áp dụng được. Để vượt qua khó khăn này, M. Hà, năm 2019, đã đề xuất phương pháp mới để thiết kế quan sát hàm trạng thái cho các hệ phi tuyến có nhiễu, trong đó hàm phi tuyến chỉ thỏa điều kiện Lipschitz một phía. Trong thực tế, việc xác định chính xác thời gian trễ của một hệ thống là rất khó khăn.
Vì vậy, việc nghiên cứu lớp hệ có trễ biến thiên có ý nghĩa rất quan trọng trong lý thuyết và thực tiễn. Thuan đã đề xuất một phương pháp giải số để nhận được một phép biến đổi tọa độ, chuyển một lớp hệ tuyến tính có trễ biến thiên về một hệ mới mà độ trễ không xuất hiện trong biến trạng thái, rất thuận tiện cho việc thiết kế bộ quan sát trạng thái dạng Luenberger. Ngày nay, các yêu cầu đối với hệ kỹ thuật (giảm độ phức tạp của thiết bị vận hành, hạ bậc điều khiển, chống được các hiện tượng hỏng hóc bất thường, vận hành được cho nhiều hệ thống, tăng độ ổn định của hệ thống, v.) ngày càng cao hơn. Do đó, việc giải quyết bài toán quan sát hàm trạng thái và áp dụng vào bài toán phát hiện lỗi đường truyền không những có ý nghĩa về mặt lý thuyết mà còn đem lại nhiều tiềm năng ứng dụng trong thực tế với hiệu quả cao và chi phí thấp.
Liên quan đến vấn đề này, năm 2014, D. Fernando đã đề xuất một phương pháp mới để thiết kế bộ quan sát nhằm phát hiện lỗi đường truyền trong một lớp hệ động lực tuyến tính có trễ. Huong đã giải quyết bài toán phát hiện lỗi cho một số lớp hệ động lực bằng phương pháp thiết kế các bộ quan sát hàm bậc nhất. Mặc dù đã có nhiều kết quả về bài toán ước lượng trạng thái cho các lớp hệ điều khiển, cho đến nay, các kết quả về bài toán thiết kế các bộ quan sát với sự hỗ trợ của các thuật toán học máy còn rất hạn chế, do đó bài toán này cần được quan tâm nghiên cứu, phát triển hơn nữa.2 Học máy Học máy (Mechine Learning - ML) là một lĩnh vực điều tra nhằm tìm hiểu và xây dựng các phương pháp học, tức là các phương pháp tận dụng dữ liệu để cải thiện hiệu suất trên một số nhiệm vụ.
Nó được xem như một phần của trí tuệ nhân tạo. Các 8 thuật toán học máy xây dựng một mô hình dựa trên dữ liệu mẫu, được gọi là dữ liệu đào tạo, để đưa ra dự đoán hoặc quyết định mà không được lập trình rõ ràng. ML có nhiều ứng dụng chẳng hạn như nội suy, dự báo, phân lớp, phân cụm; nhận dạng chữ viết tay, nhận dạng ảnh; phát hiện cấu trúc, các yếu tố tác động, các quy luật; điều khiển thông minh; hỗ trợ ra quyết định; phân tích trong y khoa, nông nghiệp, khoa học xã hội, luật pháp, marketing, phân tích tài chính, v. Theo định nghĩa của tác giả T.Metchell về machine learning như sau: Một chương trình máy tính được gọi là học để thực hiện một nhiệm vụ T từ kinh nghiệm E, nếu hiệu suất thực hiện công việc T của nó được đo bởi chỉ số hiệu suất P và được cải thiện bởi kinh nghiệm E theo thời gian.
Ví dụ: Một cỗ máy thực hiện chơi cờ (nhiệm vụ T), có thể học từ dữ liệu các ván cờ trước đó hoặc chơi với một chuyên gia (kinh nghiệm E). Khả năng chơi của cỗ máy là tỉ lệ số ván mà nó chiến thắng khi chơi với con người (hiệu suất P). Tùy thuộc vào phương thức tiếp cận, ML được phân loại như sau: (i) Học có giám sát (Supervised Learning): Xác định giá trị/nhãn cho dữ liệu mới dựa trên quy luật được phát hiện từ tính chất của tập dữ liệu. Giám sát được thể hiện qua giá trị hoặc nhãn của dữ liệu mẫu.
Vì vậy, tập dữ liệu mẫu để học theo phương pháp này phải có giá trị đầu ra/nhãn đã được xác định trước. Các bài toán hồi quy (Regresstion) và phân lớp (Classification) thuộc loại này. (ii) Học không giám sát (Unsupervised Learning): Tập dữ liệu mẫu để học không có nhãn. Học không giám sát kết luận những đối tượng có tính gần giống nhau để suy ra một kết luận, hỗ trợ quyết định, ngoài ra còn phát hiện cấu trúc của tập dữ liệu mẫu.
Bài toán phân cụm dữ liệu (Clustering) và tìm quy luật kết hợp (Association) thuộc loại này. (iii) Học bán giám sát (Semisupervised Learning): Tập dữ liệu mẫu của bài toán này, một số có nhãn và một số không có nhãn. Kết hợp hai phương thức học có giám sát và không có giám sát. (iv) Học tăng cường (Reinforcement Learning): Học theo chuỗi các hành vi, từng bước để đạt được kết quả khi thực hiện hoàn tất chuỗi biến đổi.
Chẳng hạn mô hình Markov ẩn. Học tăng cường được ứng dụng trong các trò chơi, điều khiển tự động. 9 Để thực hiện chuyển đổi từ input thành output mong muốn, chúng ta có thể sử dụng các mô hình khác nhau. Machine learning có rất nhiều thuật toán khác nhau nhưng phổ biến nhất là các thuật toán như: (i) Support Vector Machines (SVM): Một thuật toán cố gắng xây dựng một siêu mặt phẳng trong không gian nhiều chiều để phân biệt các đối tượng ở các lớp khác nhau, làm sao cho khoảng cách giữa hai đối tượng khác label gần nhau nhất có khoảng cách cực đại.
Ý tưởng của thuật toán cực kỳ đơn giản, nhưng mô hình này lại rất phức tạp và có hiệu quả. Thực tế, ở một số bài toán, SVM là một mô hình machine learning cho hiệu quả tốt nhất. (ii) Mô hình xác suất (Probabilistic Models): Các mô hình này cố gắng giải quyết bài toán bằng phân bố xác suất. Một thuật toán phổ biến nhất là phân loại Naive Bayes; nó sử dụng lý thuyết Bayes và giả thiết các đặc trưng là độc lập.
Điểm mạnh của mô hình xác suất là đơn giản nhưng hiệu quả. Đầu ra của nó không chỉ là label mà còn đi kèm xác suất thể hiện độ chính xác cho kết quả đó.