CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TRẮC NGHIỆM 1. Trắc nghiệm và phân loại trắc nghiệm 1. Trắc nghiệm (Test) là gì? Hoạt động đánh giá đào tạo được ra đời và phát triển song song cùng với hoạt động đào tạo. Trong những năm gần đây, việc lượng giá kết quả học tập nhờ sử dụng hình thức thi trắc nghiệm (test) đã nhận được sự quan tâm của các trường đại học và nhiều cơ sở đào tạo khác.
Theo Từ điển Tiếng Việt 1997: Trắc nghiệm (test) là việc sử dụng một nhóm câu hỏi hoặc bài làm để qua các lời giải đáp xác định những đặc trưng tâm sinh lý, những hiểu biết, những năng khiếu, thói quen…của những cá nhân nào đó. Trong giáo dục, trắc nghiệm được hiểu là một phương pháp đo để thăm đò một số đặc điểm năng lực trí tuệ chủa học sinh (chú ý, ghi nhớ, quan sát, tưởng tượng, tư duy năng khiếu…) hoặc để kiểm tra đánh giá một số kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ của các thí sinh. Theo [1], trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động được thực hiện để đo lường năng lực của các đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định, chẳng hạn, phân loại thí sinh, tìm ra thí sinh nổi trội, sàng lọc ra những thí sinh kém. Trong giáo dục trắc nghiệm được tiến hành thường xuyên ở các kỳ thi, kiểm tra hay sát hạch nhằm đánh giá kết quả học tập và giảng dạy đối với một phần của môn học hoặc toàn bộ môn học hay đối với cả một cấp học.
Ngoài ra, trắc nghiệm cũng có thể được sử dụng nhằm lọc chọn một số người có năng lực cao nhất vào học một khoá học nào đó. Trắc nghiệm là một trong những phương thức lượng giá giáo dục mang tính khoa học và đặc biệt có hiệu quả trong trường hợp số lượng các thí sinh lớn. Tuy trong một số trường hợp, trắc nghiệm được xem như một phương thức quan trọng đánh giá kết quả học tập bổ sung cho phương thức truyền thống, không thay thế hoàn toàn cho phương thức truyền thống. 6 z Lý thuyết trắc nghiệm và ứng dụng trong trắc nghiệm trực tuyến 1.
Phân loại trắc nghiệm Có thể phân chia các phương pháp trắc nghiệm ra làm 3 loại: loại quan sát, loại vấn đáp và loại viết. Loại quan sát: Trắc nghiệm quan sát giúp xác định những thái độ, phản ứng vô thức, những kỹ năng thực hành trong những tình huống cụ thể và một số kỹ năng về nhận thức, chẳng hạn, cách giải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu. Loại vấn đáp: Loại trắc nghiệm vấn đáp có tác dụng tốt khi nêu các câu hỏi phát sinh trong một tình huống cần kiểm tra. Trắc nghiệm vấn đáp thường được dùng khi tương tác giữa người chấm và người học là quan trọng, chẳng hạn cần xác định thái độ phản ứng khi phỏng vấn… c.
Loại viết: Thường được sử dụng nhiều nhất vì nó có những ưu điểm sau: o Cho phép kiểm tra nhiều thí sinh một lúc; o Cho phép thí sinh cân nhắc nhiều hơn khi trả lời; o Cung cấp bản ghi rõ ràng các câu trả lời của thí sinh để dùng khi chấm; o Dễ quản lý và chấm điểm bài thi hơn. Trắc nghiệm viết, theo [1], được chia thành 2 nhóm chính: Tự luận (essay): Nhóm các câu hỏi trắc nghiệm buộc trả lời theo dạng mở, thí sinh phải tự trình bày ý kiến trong một bài viết dài để giải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra. Phương pháp tự luận rất quen thuộc với hầu hết mọi người. Trắc nghiệm khách quan (objective test): Nhóm các câu trắc nghiệm mà trong đó đề thi thường gồm rất nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu ra một vấn đề cùng với những thông tin cần thiết sao cho thí sinh chỉ phải trả lời vắn tắt cho từng câu.
7 z Lý thuyết trắc nghiệm và ứng dụng trong trắc nghiệm trực tuyến Các phương pháp thi trắc nghiệm CÁC PHƢƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM QUAN SÁT VIẾT VẤN ĐÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRẮC NGHIỆM TỰ LUẬN (Objective tests) (Essay tests) Tiểu luận Cung cấp thông tin Ghép đôi Điền khuyết Trả lời ngắn Đúng sai Nhiều lựa chọn Hình 1.1: Các phương pháp trắc nghiệm Trong luận văn này, chúng ta chỉ xem xét đến trắc nghiệm khách quan. Trong trắc nghiệm khách quan, có thể có một số cách phân loại như sau: 1) Dựa theo cách chuẩn bị đề thi trắc nghiệm khách quan, có thể phân chia thành hai loại: trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá và trắc nghiệm dùng ở lớp học. - Trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá thường do các chuyên gia trắc nghiệm soạn thảo, thử nghiệm, tu chỉnh, do đó mỗi câu trắc nghiệm khách quan được gắn với các chỉ số cho biết thuộc tính và chất lượng của nó (độ khó, độ phân biệt, phản ánh nội dung và mức độ kỹ năng nào), mỗi đề thi trắc nghiệm có gắn với một độ tin cậy xác định, ngoài ra có những chỉ dẫn cụ thể về cách triển khai trắc nghiệm và giải thích kết quả trắc nghiệm. - Trắc nghiệm dùng ở lớp học (hoặc trắc nghiệm do giáo viên soạn) là trắc nghiệm do giáo viên tự viết để sử dụng trong quá trình giảng dạy, có thể chưa được thử nghiệm và tu chỉnh công phu, thường chỉ sử dụng trong các kỳ kiểm tra với số lượng học sinh không lớn và không thật quan trọng.
2) Dựa theo dạng lượng giá (assessment) giáo dục trong các khoá học, có thể chia thành một số dạng trắc nghiệm khách quan tương ứng: - Trắc nghiệm phân loại (Diagnostic Test): là bài trắc nghiệm dùng để tìm hiểu, chẩn đoán (diagnostic) đối tượng học hoặc phân lớp đối tượng, thường 8 z Lý thuyết trắc nghiệm và ứng dụng trong trắc nghiệm trực tuyến dùng vào đầu quá trình giảng dạy. Thông thường bài trắc nghiệm này do chính giáo viên giảng dạy soạn thảo. - Trắc nghiệm giữa kỳ (Formative Test): thực hiện trong tiến trình (formative) giảng dạy nhằm thu được những thông tin phản hồi từ người học giúp điều chỉnh quá trình dạy và học. - Trắc nghiệm tổng kết (Summative Test): thực hiện khi kết thúc khóa học nhằm tổng kết và đánh giá kết quả dạy và học.
3) Dựa theo việc đảm bảo thời gian để làm trắc nghiệm khách quan, có thể phân chia thành hai loại: loại trắc nghiệm theo tốc độ và trắc nghiệm không theo tốc độ. - Trắc nghiệm theo tốc độ thường hạn chế thời gian (có thể hạn chế thời gian cho mỗi câu hỏi hoặc hạn chế thời gian cho cả bài), thông thường, chỉ một ít thí sinh làm nhanh mới có thể làm hết số câu của bài trắc nghiệm. Dạng trắc nghiệm này nhằm đánh giá năng lực và khả năng làm nhanh của thí sinh. - Trắc nghiệm không theo tốc độ thường cung cấp đủ thời gian cho phần lớn sinh có thể kịp suy nghĩ để làm hết bài trắc nghiệm.
4) Dựa theo phương hướng sử dụng kết quả trắc nghiệm khách quan, có thể phân chia thành: trắc nghiệm theo chuẩn (norm-referrenced test) và trắc nghiệm theo tiêu chí (criterion-referrenced test). - Trắc nghiệm theo chuẩn: là trắc nghiệm được sử dụng để xác định mức độ thực hiện của một cá nhân nào đó so với các các nhân khác cùng làm một bài trắc nghiệm. - Trắc nghiệm theo tiêu chí: là trắc nghiệm được sử dụng để xác định mức độ thực hiện của một cá nhân nào đó so với một tiêu chí xác định nào đó cho trước. 5) Dựa theo phương thức triển khai trắc nghiệm khách quan, có thể chia thành: trắc nghiệm trên máy tính (Computer Based Testing - CBT) hoặc trắc nghiệm truyền thống trên giấy.
- Trắc nghiệm trên máy tính: thí sinh dùng máy tính thực hiện bài trắc nghiệm. Với dạng trắc nghiệm trên máy, có nhiều cách phân loại khác, chẳng hạn, phân thành 2 loại: bài trắc nghiệm được cài đặt trên máy tính cá nhân (Computer Based Testing - CBT); bài trắc nghiệm đặt trên máy chủ và thí sinh thực hiện bài thi thông qua trình duyệt Web (Internet Based Testing - iBT). 9 z Lý thuyết trắc nghiệm và ứng dụng trong trắc nghiệm trực tuyến Ngoài ra, trắc nghiệm trên máy tính còn có thể phân ra thành hai loại: trắc nghiệm thích nghi (Computer Adaptive Test - CAT) và trắc nghiệm thông thường (Non-Apdaptive Test). Trắc nghiệm thích nghi là phương thức trắc nghiệm mà mỗi câu hỏi thí sinh nhận được trong bài trắc nghiệm phụ thuộc vào câu trả lời của thí sinh đối với câu hỏi trước đó, chẳng hạn, nếu thí sinh trả lời đúng câu hỏi có độ khó ở mức trung bình thì câu hỏi mà thí sinh nhận được sau đó độ khó sẽ tăng lên một chút, ngược lại, câu hỏi mà thí sinh nhận được sau đó sẽ dễ hơn câu hỏi trước.
So sánh giữa trắc nghiệm khách quan và tự luận Tự luận được xem là dạng thi "truyền thống" trong đó đề thi có thể là những câu hỏi cụ thể hoặc tổng quát và thí sinh được phép "tự do" trả lời câu hỏi theo sự hiểu biết hoặc suy nghĩ của cá nhân mình. Dựa vào các câu hỏi, đề bài được ra, thí sinh phải diễn đạt ý trả lời trên giấy hoặc gõ trên máy tính. Bài trắc nghiệm tự luận thường được chấm điểm một cách chủ quan và các điểm cho bởi những người chấm khác nhau có thể không thống nhất. Thông thường một bài trắc nghiệm tự luận gồm ít câu hỏi hơn là một bài trắc nghiệm khách quan do thí sinh phải cần nhiều thời gian để trả lời mỗi câu hỏi.
Trắc nghiệm khách quan thường có nhiều phương án trả lời được cung cấp cho mỗi câu hỏi của bài trắc nghiệm nhưng chỉ có một phương án duy nhất là đúng hoặc đúng nhất, phù hợp nhất. Trước đây, bài trắc nghiệm khách quan được chấm điểm bằng cách đếm số lần mà thí sinh đã chọn được phương án trả lời đúng trong số những phương án trả lời đã được cung cấp, điểm này còn gọi là điểm thô (raw score). Tuy nhiên, sau này khi áp dụng phương thức lượng giá theo lý thuyết ứng đáp câu hỏi (item response theory), điểm thực của bài thi được tính theo cách khác (xem Chương 2). Bài trắc nghiệm được gọi là khách quan vì việc cho điểm là khách quan, không chủ quan như đối với bài tự luận.
Nói chung, kết quả chấm điểm sẽ như nhau, không phụ thuộc vào việc ai chấm bài trắc nghiệm đó. Thông thường bài trắc nghiệm khách quan gồm có nhiều câu hỏi hơn bài tự luận, và mỗi câu hỏi thường có thể được trả lời bằng cách đánh dấu chọn đơn giản. Có một câu hỏi thường nảy sinh: trong hai phương pháp trắc nghiệm khách quan và tự luận, phương pháp nào tốt hơn?