Chương 1 GIỚI THIỆU Ngày nay, khoa học máy tính đã xâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhiều ngành thậm chí không thể tồn tại và phát triển được nếu không có sự trợ giúp của khoa học máy tính. Sự ra đời của hệ thống thông tin địa lý GIS (Geographic Information System) đã góp phần đáng kể trong việc tin học hoá công tác quản lý thông tin bản đồ tạo ra một sự nhìn nhận có hệ thống về tổng thể, nhằm thu nhận, xử lý, lưu trữ, quản lý, phân tích và hiển thị các thông tin không gian từ thế giới thực, để giải quyết các vấn đề tổng hợp thông tin cho phép người sử dụng thực hiện tốt hơn công việc lập kế hoạch và trợ giúp quyết định. Cùng với sự phát triển đi lên của thành phố Long xuyên, tình hình dân số tăng và trở nên phức tạp hơn do nhu cầu ngày càng cao về lao động của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ,… Mặt khác, số liệu liên quan cho thấy, dân số của thành phố luôn tăng ở mức cao và số lượng học sinh, sinh viên từ các huyện trong tỉnh và các tỉnh khác tập trung về thành phố Long xuyên tăng lên theo từng năm.
Qua việc tìm hiểu thực tế cho thấy, hiện nay phòng dân số của thành phố Long Xuyên vẫn chưa có được một phần mềm chuyên dụng nhằm lưu trữ thông tin về dân số. Phương pháp quản lý thông tin về dân số vẫn còn thông qua bằng biểu bảng nên gặp phải nhiều khó khăn và tốn nhiều công sức. Vì vậy, đề tài “Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong việc xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về dân số của thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang” được thực hiện, với mục đích có thể khắc phục những vấn đề trên. Nhằm đạt được mục đích đề ra, đề tài thực hiện 3 mục tiêu cụ thể sau: - Thiết kế cấu trúc cơ sở dữ liệu dân số có tính tổng hợp, làm tăng khả năng lưu trữ và truy xuất số liệu.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu bản đồ thông tin về dân số. - Liên kết thống nhất và Logic giữa cơ sở dữ liệu không gian và cơ sở dữ liệu phi không gian. 11 Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2. Sơ lược về lịch sử phát triển dân số của thành phố Long Xuyên 2.
Tình hình dân số Long Xuyên thời Pháp thuộc Theo nghị định ngày 20-12-1899, Pháp bãi bỏ danh xưng địa hạt đổi thành tỉnh. Thống kê dân số lúc đó còn sơ sài, nhưng cũng đã nắm được tình hình dân số vào năm 1910 của 14 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long là 1. Trong đó dân số tỉnh Long Xuyên có 142.777 người và đứng hàng thứ 6 so với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.Coquerel – Paddyset riz de Cochinchine – Lyon 1911). Bảng 1: Dân số tỉnh Long Xuyên từ 1874 đến 1919 Năm Dân số Việt Khmer Hoa 1874 52.898 (Nguồn: Địa chí An giang.
Qua tài liệu này, trong vòng 45 năm, dân số tỉnh Long Xuyên tăng lên đáng kể, hơn 4 lần so với năm 1874. Nguồn lực đã thu hút dân cư về vùng này là do tiềm lực về nông nghiệp, cánh đồng đầu nguồn sông Cửu Long đầy phù sa bồi đắp hàng năm, tôm cá phong phú, người dân rất dễ sinh sống. Tình hình dân số Long Xuyên thời kháng chiến chống Mỹ Năm 1956, tỉnh Long Xuyên có diện tích 2.573 km2 dân số khoảng 396.278 người, và tỉnh Châu Đốc có diện tích 2.630 km2, diện tích chung hai tỉnh là 5.203 km2, rộng hơn hiện nay do có thêm các huyện Hồng Ngự, Lấp Vò và Thốt Nốt. Đến năm 1957, hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc đã nhập lại thành tỉnh An Giang có diện tích 3.
Đồng bằng sông Cửu Long lúc này có 12 tỉnh. Dân số lúc này được thể hiện ở bảng: Bảng 2: Dân số tỉnh Long Xuyên từ 1957 đến 1967 Năm Dân số An Giang (người) Dân số Long Xuyên (người) 1957 710.790 (Nguồn: Địa chí An Giang.2003) Từ năm 1964, tỉnh An Giang lại chia ra tỉnh An Giang và Châu Đốc nên dân số tỉnh An Giang giảm do chia bớt sang Tỉnh Châu Đốc. Từ năm 1964 đến năm 1973 dân số An Giang nói chung và tỉnh lỵ Long Xuyên nói riêng tiếp tục tăng với tốc độ cao do tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cao trên 3%, mỗi gia đình có 9, 10 người con là chuyện thường. Tình hình dân số Long Xuyên sau ngày giải phóng miền Nam Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tỉnh An Giang và Châu Đốc được nhập lại lần nữa thành tỉnh An Giang, lúc này tỉnh An Giang có 2 thị xã (Long Xuyên, Châu Đốc) và 6 huyện.
Để khái quát dân số của tỉnh An Giang và thị xã Long Xuyên ta có bảng sau: Bảng 3: Dân số tỉnh An Giang và thị xã Long Xuyên từ 1975-1999 Năm Dân số An Giang (người) Dân số Long Xuyên (người) 1975 1. Tình hình dân số Long Xuyên trong những năm gần đây Vào ngày 1-3-1999 thị xã Long Xuyên được nâng cấp thành thành phố Long Xuyên trực thuộc tỉnh An Giang, trở thành trung tâm thương mại buôn bán, trung tâm công nghiệp của tỉnh, đây là nhân tố thu hút các nguồn lao động từ mọi nơi đổ về thành phố làm cho dân số thành phố Long Xuyên tăng nhanh và diễn biến tương đối phức tạp, mặc dù tỷ lệ tăng dân số tự nhiên có xu hướng giảm trong những năm gần đây dưới 1,3%. Dân số thành phố Long Xuyên gần đây được thể hiện qua bảng: Bảng 4: Dân số thành phố Long Xuyên trong những năm gần đây Năm Tổng dân số Dân số Nam Dân số Nữ Tỷ lệ tăng tự nhiên (%) 2001 256.18 (Nguồn: Địa chí An Giang.2003) Trong những năm gần đây dân số thành phố tăng trung bình khoảng 3000 người/năm đây là một con số tăng đáng kể khi diện tích của thành phố Long Xuyên vẫn không thay đổi. Điều này là một thách thức cho các nhà quản lý trong việc phân bố dân cư sao cho hợp lý trong tương lai.
Hệ thống thông tin địa lý 2. Định nghĩa Theo Võ Quang Minh (1999), GIS là một kỹ thuật quản lý thông tin dựa vào máy vi tính sử dụng bởi con người vào mục đích lưu trữ, quản lý và sử dụng các số liệu thuộc về địa lý hoặc không gian nhằm phục vụ cho các mục đích khác nhau. Theo Nguyễn Thế Thận và Trần Công Yên (2000), GIS là một tập hợp tổ chức của một phần cứng máy tính, phần mềm, dữ liệu địa lý và các thủ tục của người sử dụng nhằm trợ giúp việc thu nhập, lưu trữ, quản lý, xử lý, phân tích và hiển thị các thông tin không 14 gian từ thế giới thực để giải quyết các vấn đề tổng hợp thông tin cho các mục đích của con người đặt ra. Lịch sử phát triển Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhu cầu số hóa và lượng hóa thông tin trên bản đồ ngày càng cao.
Đặc biệt là bản đồ chuyên đề đã cung cấp thông tin hữu ích để khai thác và quản lý tài nguyên. Những sự mô tả định lượng bị ngăn cản lớn do khối lượng của số liệu và những quan trắc định lượng. Từ những năm 60, cùng với sự góp mặt của máy vi tính bằng số thì việc phân tích không gian và làm bản đồ chuyên đề mang tính định lượng mới có thể nẩy nở và phát triển. Hệ thống thông tin địa lý GIS là hệ thống thông tin không gian được phát triển dựa trên cơ sở công nghệ máy tính và mô tả được nhiều dữ liệu (Nguyễn Thế Thận, 1999).
Mô hình công nghệ GIS Theo Nguyễn Thế Thận (1999), mô hình công nghệ GIS bao gồm: Quản lý Xử lý Phân tích Số Số liệu số số liệu số liệu liệu ra Hình 1: Mô hình công nghệ GIS 2. Số liệu vào Số liệu được thu thập từ các nguồn khác nhau: - Chuyển đổi. - Hệ thống định vị toàn cầu (GPS). - Toàn đạc điện tử.
Quản lý số liệu 15 Số liệu sau khi được thu thập và tổng hợp lưu trữ và bảo trì dữ liệu, việc quản lý số liệu cần đảm bảo các khía cạnh sau: - Bảo mật số liệu. - Tích lượng số liệu. - Lọc và đánh giá số liệu. - Khả năng duy trì số liệu.
Xử lý số liệu Nhằm tạo ra thông tin, xử lý số liệu tạo ra các ảnh báo và bản đồ. Phân tích và mô hình hóa Là khả năng giải mã và phân tích về mặt định hình và định hướng thông tin đã thu thập, phân tích thông tin không gian để sử dụng các quan hệ đã biết rồi mô hình hóa đặc tính địa lý đầu ra của một tổ hợp các điều kiện. Số liệu ra Việc sử dụng công nghệ máy tính số có nghĩa là thông tin này có thể được quan sát trên màn hình, được vẽ ra như trên các bản đồ giấy, nhận được như một ảnh địa hình hoặc dùng để tạo ra một số File số liệu. Liên hệ trực quan là một trong những phương tiện của công nghệ GIS được tăng cường bởi sự biến đổi ngược của các lựa chọn đầu ra.
Các thành phần của hệ thống GIS Theo Võ Quang Minh (1999), thì công nghệ GIS gồm 5 hợp phần cơ bản: - Thiết bị phần cứng máy tính (Hardware). - Phần mềm máy tính GIS (Software). - Số liệu - dữ liệu địa lý (Geographic Data). - Chính sách và cách thức quản lý.
16 Hình 2: Các thành phần của hệ thống GIS 2. Thiết bị phần cứng máy tính Theo Võ Quang Minh (1999), thì phần cứng tổng quát của hệ thống thông tin địa lý bao gồm các thiết bị sau: - Bộ xử lý trung tâm (CPU): là phần cứng quan trọng nhất của máy vi tính. CPU không những thực hành tính toán trên dữ liệu mà còn điều khiển sắp đặt phần cứng khác mà nó thì cần thiết cho việc quản lý thông tin thông qua hệ thống. - Bộ nhớ trong (RAM): Có chức năng như là “không gian làm việc” cho chương trình và dữ liệu.
Bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên (RAM) có khả năng giữ một giới hạn số lượng dữ liệu ở một số lượng thời gian. - Bộ sắp xếp và lưư trữ ngoài (Diskette, Harddisk, CD-ROM): băng có từ tính được giữ không những trong cuộn băng lớn (giống trong cuộn băng máy hát đĩa) mà còn trong cuộn băng nhỏ. Thuận lợi ở dây băng có từ tính là nó có thể lưu trữ một số lượng lớn dữ liệu.