chương 1: Các loại hợp giảng E-learning có hiệu chất vô cơ hóa học 9 quả, phát huy được việc trung học cơ sở"- Luận ứng dụng CNTT trong văn thạc sĩ giáo dục, nhà trường và xã hội. Trương Thị Trâm Anh ~ Tân dụng được mạng xã (2018)/Trường - ĐHSP hội giúp học sinh tự kiếm Huế [1] tra đánh giá và hoàn thiện kiến thức của bản thân. Ung dụng công nghệ thông tin trong dạy học phan hóa học hữu cơ THPT nâng cao nhằm nâng cao chất lượng dạy. học hóa học, luận án tiến sĩ - Phạm Ngọc Sơn (2012), Trường ĐHSP Hà Nội.
[31] 14 lận xét chung: ~ Ứng dụng CNTT vào dạy học Hóa học lä xu hướng đổi yếuhiện nay. Nhờ có CNTT mã bãi giảng của GV trở nên sinh động hon so với cách dạy truyền thống. ~ Phân mềm powerpoint rat thiét thực. hữu ích, tiên lợi đề GV soạn BGĐT.
~ Các phần thực nghiệm điều tra đều cho thay HS rất thích thú khi được học BGĐT. Các đề tải trên đều thể hiện những điểm chung thống nhất như sau: CNTT có tác dụng mạnh mẽ trong việc nâng cao hiệu quả DHHH. trình Microsoft PowerPoint duge sử dụng phổ biến trong các dé tải nhờ tính hữu ich và tiện lợi của nó đối với GV trong quá trình soạn BGĐT. Việc tích hợp các phần mềm ứng dụng khác vào bài giảng là rất hữu ích, GV ít tốn kém thời gian vào việc soạn BGĐT và hoạt động dạy học đạt hiệu qua hon, Tuy nhiên, chỉ có một số có sự tích hợp các phần mềm ứng dụng khác như: Violet, Chemoffice, Crocodile Chemistry.vào việc soạn BGĐT.
Bên cạnh đó, các để tải đã xây dựng được tiêu chí đánh giá BGĐT nhưng chưa được chỉ tiết, rõ rằng, Các đề tài nêu trên chưa đề cập đến vẫn đẻ phát triển năng lực hợp tác giải quyết vẫn để của HS, 1. Phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cho học sinh THPT NLHT là một trong những NL quan trọng góp phần hình thành kĩ năng học tập và kĩ năng xã hội cho HS. Phát triển NLHT đã được Việt Nam và các nước phát triển áp dụng rộng rãi trong các môn học và các cấp học. Cụ thể đã có một số công.
trình nghiên cứu của các nhà khoa học, học viên cao học về lĩnh vực nảy: 1. Vũ Thị Ngọc Diệp (2017), Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh thông qua dạy học dự án phần hi drocacbon - hóa học 11, Luận văn thạc sĩ, Trường ĐHISP' Hà 2. Trần Thị Thông (2016), Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong day học chương oxi- Lưu huỳnh hóa 10 THPT, Luận văn thạc sĩ, Trường ĐHSP Hà Nội. Ngô Xuân Quỳnh (2016), Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua dạy học phân hóa phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa 11 THPT, Luan van thạc sĩ, Trường ĐHSP Hà Nội.
Trường ĐHSP Hà Nội. Nguyễn Thị Kim Ngân (2016), Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh thông qua dạy học các chủ để tích hợp chương nhóm Oxi- Lưu huỳnh hóa học 10 nâng cao, Luận văn thạc sĩ, Trường ĐH Giáo Dục- ĐH Quốc Gia Hà Nội. vẫn đề phát triển NL hợp tác giải quyết vấn đề thông qua việc dạy học chương phi kim hóa 10 bằng CNTT còn chưa được đề cập đến. Vi thế thông qua đề tải này, chúng tôi mong muốn tạo nên những điểm mới cho việc vận dụng CNTT vào dạy học, cụ thể là chương Oxi - Lưu huỳnh môn Hỏa học 10.
Tuy vậy, những đề tài trên là những tư liệu quý giá, có nhiều giá trị về mặt lý luân cũng như thực tiễn, giúp chúng tôi có thé rút ra nhiều điều bổ ích và những goi ÿ quan trọng cho để tải nghiên cứu của mình.2 Năng lực và vấn đề phát triển năng lực cho học sinh THPT 12. Khái ìm về năng lực Hiện nay có rất nhiều quan điểm vả cách hiểu về NL cả trên thế giới và ở Việt Nam. * Các tài liệu ở nước ngoài: + Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Thể giới (OECD) cho rằng NL là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu câu phức hợp trong một bối cảnh cụ thẻ. [39] + Chương trình Giáo dục Trung học bang Québec, Canada năm 2004 xem NL là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực.
[43] * Ở Việt Nam, với xu hướng giáo dục như đã nói ở trên thi vin dé NL cũng được nhiều người quan tâm và nghiên cứu. Chẳng hạn như: Bemd Meier, Nguyễn Văn Cường xác định: "Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động giải quyết các nhiệm vụ, vấn để trong những tình huỗng thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo vả kinh nghiêm cũng như sự sẵn sảng hành động. Theo các tác giả này thi năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yêu tổ như kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ. kinh nghiệm, sự sẵn i hành động và trách nhiệm”.
[II] Chương trình giáo dục phô thông tổng thể của Bộ giáo dục và Đảo tạo 2018) đã xác định: “Nang lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tổ chất sẵn có, quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí.thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cu thé ”.[4] + Trong lĩnh vực tâm lý, người ta cho rằng NL là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cẩu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đám bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao và chia NL thành năng NL chung, NL cốt lõi và NL chuyên môn. + Tài liêu hội thảo chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) tổng thể trong CT GDPT mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo xếp NL. vào phạm trủ hoạt động và giải thích: NL li sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như. hứng thú, iềm tin, ý chí.
để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định. [4] + Trong một báo cáo của Trung tâm nghiên cứu châu Âu về việc làm và lao động. năm 2005, các tác giả đã phân tích rõ mối liên quan giữa các khái iém năng lực (Competence), Kinng (skill) va kiến thie (knowledge). Bio cáo này đã tổng hợp các định nghĩa chính về NL trong đó nêu rõ NL là tổ hợp những phẩm chất vẻ thể chất và trí tuệ giúp ich cho việc hoàn thành một công việc với mức độ chính xác nào đó.
"Như vậy, cho dù khỏ định nghĩa năng lực một cách chính xác nhất nhưng các nhà nghiên cứu Việt Nam và thể giới đã có cách hiểu tương tự nhau vẻ khái niệm này. chung lại, năng lực được coi là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả. Bên cạnh đó, tuy có một số quan điểm không cơ bản khác nhau về NL nhưng các nhà nghiên cửu trên thế giới và ở Việt Nam đều gặp nhau ở qua điểm cho rằng, NL là sự kết hợp của các khả. năng, phẩm chất, thái độ cúa một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có.
hiệu qua và được bộc lô thông qua các hoạt động (hành động, công vig + Dua vào những quan điểm và cách hiểu về NL của các nh nghiên cứu trong và ngoài nước có thể thấy NL là một khải niệm rông, với nhiều cách hiểu vả được nhìn nhận trên nhiều lĩnh vực. Có éthay ring, NL di trong bat kỷ lĩnh vực nào cũng đều có ba đặc trưng cơ bản, đó là: được bộclộ ở hoạt động; tính “hiệu qua” ciia NL, nghia là "thành công" hoặc “chất lượng cao” của hoạt đông; “sự phối hợp (tông hợp. huy động) nhiễu nguồn lực”. “Tóm lại, có thể hiểu NL là sự thực hiện đạt hiệu quả cao một hoạt động (công.
việc) cụ thể trong một lĩnh vực cụ thể, NL được hình thành dựa vào tố chất sẵn có của cá nhân. Thông qua quá trình rèn luyện, học tập và thực hành NL ngày cảng phát triển, hoàn thiện đảm bảo cho cá nhân đạt được hiệu quả cao trong một lĩnh vực cụ thể tương, ứng với NL mà mình có. Năng lực hợp tác giải quyết vấn đề 1. Khải niệm năng lực hợp tác giải quyết vẫn đề Theo khung năng lực PISA 2015, năng lực hợp tác giái quyết vẫn để được định nghĩa là “năng lực của một cá nhân tham gia tích cực và hiệu quả vào một quả trình mà hai hoặc nhiễu người nỗ lực đề cùng giải quyết một vấn đê bằng cách chia.
sẻ sự hiểu biết và nỗ lực cân cỏ đề đưa ra giải pháp. Đông thời sử dụng các kiến thức, kĩ năng và nổ lực để có được giải pháp đó"142] Một số định nghĩa hiện có vẻ năng lực hợp tác giái quyết vấn đẻ (như O'Neil et al, 2008; Salas Dickenson, Converse & Tannenbaum, 1992) đều có đặc điểm chung là: sự tồn tại của nhóm người học gồm it nhất hai người trở lên; có một vấn để cần giải quyết và một mục tiêu chung; và dé giải quyết vấn đề nhóm người học không chỉ cẩn năng lực nhận thức mà cỏn cần đến cả các năng lực xã hội, năng lực giao tiếp. Hợp tác giải quyết vấn để liên quan đến quá trình nhận thức của một cá nhân có sự tham gia của hai kĩ năng nhận thức và xã hội. Đề giải quyết vấn đẻ, trước hết các cá nhân phải nhận thức được mâu thuẫn giữa các tỉnh huống thực tế va hiểu biết của bản thân, biển mâu thuẫn đó thành vần đề cần giải quyết dựa trên khả năng của.
bản thân trong việc tìm tôi, khám phá, tổng hợp và xử lí thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Hiệu quả của việc hợp tác giải quyết vấn để phụ thuộc vào khá năng. công tác của các thành viên trong nhóm trong các tỉnh huồng hợp tác [ 42]. Sự hợp tác đòi hỏi ít nhất phải có hai đối tượng trở lên: có thể là người- người.
người- mắy tính trong đó có một đổi tượng có khả năng tạo ra các mục tiêu, hoạt động, thông điệp giao tiếp, phản ứng với những phản hồi của những người tham gia khác [42]. Sự hợp tác có thể xây ra khi các thành viên trong nhóm củng phần dau dé xây dựng và đạt được một mục tiêu chung về một nhiệm vụ đặt ra.